Tăng cường hòa giải, đối thoại trong giải quyết tranh chấp dân sự, hành chính tại tòa án
Cập nhật ngày: 14-12-2018
 
Việc giải quyết tranh chấp bằng một phán quyết của Tòa án thường được coi là lựa chọn cuối cùng. Trái lại, hòa giải, đối thoại luôn được coi là phương thức hữu hiệu để giải quyết tranh chấp trong đời sống xã hội bởi những ưu việt của phương thức này.
 

Những năm gần đây, với nền kinh tế nhiều thành phần có độ mở cao, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng đã mang lại những thành tựu nổi bật về phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nhưng cũng làm gia tăng các tranh chấp dân sự, hành chính. Tính từ năm 2012 đến nay, số lượng các vụ án loại này đã tăng gấp hai lần với tính chất ngày càng phức tạp, đa dạng; nhiều vụ án dân sự, hành chính đã xét xử sơ thẩm, phúc thẩm nhưng vẫn tiếp tục có đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm; các bản án có hiệu lực pháp luật nhưng chậm được thi hành gây ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân, làm giảm niềm tin của người dân và xã hội đối với công tác tòa án.

Hòa giải, đối thoại có thể giúp các bên giải quyết mâu thuẫn bằng chính ý chí của mình chứ không phải phán quyết của tòa án thông qua phiên tòa xét xử; qua đó, rút ngắn thời gian giải quyết vụ việc, tiết kiệm kinh phí của Nhà nước và các bên, hàn gắn những rạn nứt trong các quan hệ xã hội, góp phần xây dựng khối đoàn kết trong nhân dân; qua việc hòa giải, đối thoại, người tiến hành hòa giải, đối thoại còn có thể giải thích, nâng cao nhận thức pháp luật cho các bên, giúp việc thi hành thuận lợi. Qua thực tiễn áp dụng, mỗi loại hình hòa giải đều đạt được những kết quả nhất định, nhưng còn nhiều hạn chế, bất cập, dẫn đến chưa đáp ứng được nhu cầu, đòi hỏi của xã hội. Về hòa giải, đối thoại trong tố tụng tại tòa án: Theo thống kê của tòa án nhân dân tối cao, trong những năm qua, tỷ lệ hòa giải trong giải quyết các vụ án dân sự của tòa án cũng đã có nhiều tiến bộ, trung bình hằng năm đạt hơn 40% số vụ án dân sự phải giải quyết và cá biệt có những tòa án, tỷ lệ này đạt tới 60 đến 70%, nhưng tập trung chủ yếu về thuận tình ly hôn. Do đó, chưa đáp ứng đòi hỏi của tình trạng quá tải các vụ việc dân sự, kinh doanh - thương mại tại tòa án.

Về hòa giải ngoài tòa án: Việc hòa giải ở cơ sở theo Luật Hòa giải ở cơ sở đạt tỷ lệ khá cao, tuy nhiên vẫn còn nhiều mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật thuộc phạm vi hòa giải chưa được phát hiện hoặc được phát hiện nhưng chưa được hòa giải, hòa giải không kịp thời, hòa giải không thành dẫn đến khiếu kiện kéo dài; chỉ có hai trung tâm trọng tài thương mại cung cấp dịch vụ hòa giải thương mại; tỷ lệ vụ việc được hòa giải thành các vụ việc tranh chấp lao động đạt 60%, nhưng số vụ được hòa giải viên lao động thụ lý rất thấp; chưa có trường hợp nào đề nghị công nhận kết quả hòa giải thành công ngoài tòa án.

Với bối cảnh pháp luật, thực tiễn và kinh nghiệm quốc tế như trên, cho thấy sự cần thiết phải đổi mới, tăng cường hòa giải, đối thoại tại tòa án ở Việt Nam với những chính sách mới đặc thù nhằm tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về hòa giải, đối thoại; tạo bước cải cách đột phá trong giải quyết tranh chấp dân sự, khiếu kiện hành chính; bảo đảm cho việc phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, xã hội hóa việc giải quyết các tranh chấp theo phương thức không đối đầu, hướng tới xây dựng các mối quan hệ trong xã hội một cách hòa bình, ổn định lâu dài.

Kết quả sáu tháng triển khai thí điểm đổi mới mô hình hòa giải, đối thoại tại thành phố Hải Phòng đạt được rất tích cực. Các trung tâm hòa giải, đối thoại tại tòa án ở thành phố Hải Phòng đã nhận 2.573 đơn khởi kiện; đưa ra hòa giải, đối thoại 2.399 đơn; hòa giải, đối thoại thành công 1.827 đơn, đạt tỷ lệ 76,2%. Số vụ việc hòa giải, đối thoại thành công 6 tháng đã giúp giảm được số vụ án tranh chấp về dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động, hành chính phải giải quyết, xét xử là 598 vụ so với cùng kỳ năm 2017. Trong số những tranh chấp được hòa giải, nhiều vụ tranh chấp dân sự, kinh doanh thương mại và khiếu kiện hành chính phức tạp, kéo dài nhiều năm, chính quyền địa phương không giải quyết được, nội bộ gia đình mâu thuẫn, mất đoàn kết, nhưng sau khi được hòa giải viên phân tích đã bớt căng thẳng, chủ động thỏa thuận phân chia đất có sự chứng kiến của chính quyền địa phương; nhiều trường hợp vợ chồng được hòa giải đoàn tụ đã chủ động gọi điện cảm ơn hòa giải viên một cách rất chân thành; nhiều tranh chấp hợp đồng tín dụng, người vay trả tiền cho ngân hàng ngay tại trung tâm hòa giải, đối thoại tại tòa án, thỏa thuận chốt nợ, thống nhất phương án trả nợ gốc và lãi được ngân hàng đồng ý và rút đơn khởi kiện.

Ðối với khiếu kiện hành chính, tuy số vụ việc đối thoại thành công đạt tỷ lệ không cao nhưng đã tạo bước chuyển biến quan trọng về nhận thức đối với cả người khởi kiện và người bị kiện; qua đối thoại một số cơ quan hành chính thấy được quyết định hành chính ban hành chưa chuẩn xác đã chủ động sửa đổi, hủy bỏ quyết định để ban hành lại, người khởi kiện rút đơn khởi kiện, tạo niềm tin trong nhân dân đối với các cơ quan hành chính nhà nước.

Kết quả thực hiện thí điểm tại thành phố Hải Phòng bước đầu cho thấy đây là mô hình cơ bản phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của Việt Nam. Tuy nhiên, vì là hoạt động thí điểm cho nên nguồn lực thực hiện còn hạn chế, chưa có cơ sở pháp lý để thực hiện trên phạm vi toàn quốc. Tiếp tục củng cố và nâng cao cơ sở thực tiễn của chế định hòa giải, đối thoại tại tòa án trước khi tòa án giải quyết vụ việc, góp phần xây dựng dự án Luật Hòa giải, đối thoại tại tòa án theo hướng đổi mới, đáp ứng yêu cầu thực tiễn đề ra, tạo bước đi đột phá trong cải cách tư pháp giải quyết vụ việc dân sự, hành chính, Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương cho phép Tòa án nhân dân tối cao tiếp tục thực hiện thí điểm tại thành phố Hải Phòng và mở rộng phạm vi thực hiện thí điểm mô hình này tại 15 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khác.

Ðổi mới, tăng cường hòa giải, đối thoại trong giải quyết tranh chấp dân sự, khiếu kiện hành chính là yêu cầu tất yếu nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp trong xã hội. Tuy nhiên, một trong những hạn chế lớn nhất cản trở áp dụng mô hình này là sự thiếu hụt của khung pháp lý. Nhằm tạo ra bước cải cách đột phá trong giải quyết tranh chấp dân sự, khiếu kiện hành chính, Tòa án nhân dân tối cao đã trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, báo cáo Quốc hội cho bổ sung dự án Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án vào chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh của Quốc hội năm 2019. Tại phiên họp ngày 10-12-2018, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã nhất trí với đề nghị của Tòa án nhân dân tối cao, bổ sung dự án Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội năm 2019; dự kiến trình Quốc hội xem xét vào kỳ họp tháng 10-2019; trình Quốc hội thông qua vào kỳ họp tháng 5-2020.

Xây dựng đất nước phát triển, ổn định lâu dài là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị, của cả Ðảng, Nhà nước và nhân dân; mỗi cơ quan, tổ chức, cá nhân đều phải đóng góp thực hiện trách nhiệm này. Lịch sử xây dựng và bảo vệ đất nước đã cho thấy mọi thắng lợi, thành tích mà nhân dân ta đã đạt được trong bất kỳ lĩnh vực nào đều không tách rời sự lãnh đạo của Ðảng; vai trò lãnh đạo của Ðảng đã được khẳng định cả trong lý luận và thực tiễn; yêu cầu về đổi mới, tăng cường hòa giải, đối thoại đã, đang và tiếp tục cần sự quan tâm, chỉ đạo quyết liệt của Ðảng, sự ủng hộ của cấp ủy, chính quyền địa phương các cấp và nhân dân. Sự tham gia của nhân dân vào hoạt động hòa giải không chỉ thể hiện ở sự đóng góp bằng nhân lực chất lượng cao từ xã hội tham gia làm hòa giải viên, đối thoại viên, mà còn là sự mạnh dạn đặt niềm tin của tổ chức, cá nhân vào việc giải quyết tranh chấp thông qua hòa giải, đối thoại tại tòa án. Nhân dân có tham gia giải quyết tranh chấp bằng hòa giải, đối thoại tại tòa án thì mô hình này mới có cơ hội để thực hành, rút kinh nghiệm và phát triển. Kết quả thí điểm tại thành phố Hải Phòng là minh chứng rất rõ về tác dụng từ sự chỉ đạo, ủng hộ của cấp ủy, chính quyền các cấp và niềm tin của nhân dân vào mô hình này.

Nguồn nhandan.com.vn