Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015, dự thảo Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú đã sửa đổi, bổ sung những nội dung mới nhằm giải quyết những tồn tại, khó khăn trong quá trình thực hiện Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin trong công tác thi hành tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú.
.jpg)
Công an Bạc Liêu dự hội nghị trực tuyến của Bộ Công an về công tác
xây dựng pháp luật
Theo đó, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam được Quốc hội khóa XIII, Kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 25/11/2015, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018 theo Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội. Trong quá trình triển khai thực hiện, bên cạnh những kết quả đạt được, Luật còn bộc lộc nhiều khó khăn, hạn chế nhất định. Cụ thể như sau:
Một là, phạm vi điều chỉnh của Luật chưa phù hợp với tình hình thực tiễn, nhất là các quy định về thi hành biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú
Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì có 08 biện pháp ngăn chặn gồm: Giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh. Trong đó, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã quy định tương đối cụ thể về trình tự, thủ tục thi hành các biện pháp ngăn chặn, gồm: Giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, tạm hoãn xuất cảnh nên thuận lợi trong quá trình thi hành. Đối với biện pháp tạm giữ, tạm giam đã được quy định trong Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam, còn biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú chưa được quy định cụ thể về trình tự, thủ tục để thi hành nên còn khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện.
Theo quy định, cấm đi khỏi nơi cư trú là một trong tám biện pháp ngăn chặn có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo có nơi cư trú, lý lịch rõ ràng nhằm bảo đảm sự có mặt của họ theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án. Bị can, bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú phải làm giấy cam đoan thực hiện các nghĩa vụ quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Trường hợp bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ cam đoan thì bị tạm giam. Theo thống kê, từ 01/01/2018 đến hết ngày 30/6/2024, các cơ quan điều tra của CAND đã quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với 342.080 đối tượng, trong đó, có 3.861 đối tượng vi phạm nghĩa vụ theo quy định của khoản 3 Điều 123 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Các cơ quan đã áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam trở lại đối với 2.007 đối tượng vi phạm nghĩa vụ; ban hành 2.030 lệnh truy nã (đã bắt được 1.715 đối tượng) và có 845 đối tượng tiếp tục phạm tội mới. Đặc biệt, trong số 3.861 đối tượng vi phạm nghĩa vụ chủ yếu là đối tượng trước khi được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú các cơ quan có thẩm quyền đã áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam theo quy định tại Điều 119 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Từ thực tiễn nêu trên thấy rằng, việc thi hành biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú còn nhiều bất cập, đặc biệt còn tình trạng các đối tượng sau khi được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú bỏ trốn, phạm tội mới, vi phạm nghĩa vụ. Từ đó tạo cơ sở để cơ quan, người có thẩm quyền mở rộng áp dụng cấm đi khỏi nơi cư trú với nhiều đối tượng, hạn chế được tình trạng quá tải tại cơ sở giam giữ, giảm chi phí quản lý và tăng lao động xã hội.
Hai là, chưa có quy định cụ thể về mô hình các cơ sở giam giữ để áp dụng đồng bộ, thống nhất và việc ứng dụng khoa học, công nghệ để quản lý cơ sở giam giữ này nhằm đảm bảo tuyệt đối an ninh, an toàn.
Các cơ sở giam giữ hiện nay đa phần được xây dựng theo mô hình thiết kế trước đây với hạng mục công trình có tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật không thống nhất do thời điểm xây dựng khác nhau; có những công trình, hạng mục được xây dựng trên 20 năm đã xuống cấp nhưng chưa được cải tạo, sửa chữa hoặc khi sửa chữa, nâng cấp lại không có tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đặc thù để triển khai áp dụng nên không bảo đảm đồng bộ, không đáp ứng được yêu cầu giam giữ, học tập, sinh hoạt, chăm sóc y tế, ăn ở dẫn đến tình trạng quá tải, vượt quy mô giam giữ, không đảm bảo chế độ ăn, diện tích nằm tối thiểu cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam…
Với những bất cập nêu trên, đòi hỏi cần phải có quy định trong Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam về mô hình cơ sở giam giữ ứng dụng khoa học, công nghệ hiện đại đồng bộ, thống nhất; quy định về thiết kế, xây dựng cơ sở giam giữ, hạng mục công trình thuộc cơ sở giam giữ theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đặc thù; đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng khoa học, công nghệ đặc biệt là công nghệ mới, trí tuệ nhân tạo phục vụ công tác thi hành tạm giữ, tạm giam, công tác quản lý cơ sở giam giữ.
Ba là, một số quy định của Luật còn nhiều vướng mắc, bất cập, chưa đồng bộ với các quy định của pháp luật có liên quan.
Sau hơn 06 năm triển khai thi hành Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam đã bộc lộ một số vướng mắc, bất cập, chưa đồng bộ với quy định của pháp luật có liên quan, cụ thể:
+ Các quy định về chế độ quản lý, giám sát người bị tạm giữ, người bị tạm giam còn nhiều vướng mắc: Chưa có quy định cụ thể chuyển giao người bị bắt theo quyết định truy nã cho cơ quan đã ra quyết định truy nã; thời điểm thực hiện các công việc để tiếp nhận người bị tạm giữ, người bị tạm giam; giải quyết trường hợp trước thời điểm tổ chức tiếp nhận mà người bị tạm giữ, tạm giam bị bệnh nặng cần kịp thời điều trị, cứu chữa tại cơ sở y tế; quy định về điều chuyển người bị tạm giữ, người bị tạm giam; trích xuất phục vụ công tác tạm giam, tham gia thực hiện giao dịch dân sự; chưa có quy định về thẩm quyền của Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng cấp tỉnh trong điều chuyển người bị tạm giữ, người bị tạm giam từ các buồng tạm giữ của đồn Biên phòng đến các cơ sở giam giữ trong CAND...
+ Chế độ, chính sách của người bị tạm giữ, người bị tạm giam, của người bị kết án tử hình đang chờ thi hành án chưa thực sự hoàn thiện: Chưa có quy định cụ thể về chế độ gửi, nhận thư, sách, báo và tài liệu của người chờ chấp hành án phạt tù, người bị kết án tử hình đang chờ thi hành án; chưa có quy định về ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý giam giữ đối với người bị kết án tử hình đang chờ thi hành án… Ngoài ra, số lượng người bị kết án tử hình liên tục tăng, trong khi đó cơ sở vật chất, trang bị phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ, công cụ hỗ trợ để phục vụ quản lý, giam giữ tại một số trại tạm giam chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế, do đó cần có quy định mang tính nguyên tắc về điều kiện đảm bảo các điều kiện bảo đảm phục vụ quản lý chặt chẽ đối với người bị kết án tử hình đang chờ thi hành án….
Với những lý do nêu trên thì việc nghiên cứu để sửa đổi Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam là yêu cầu cấp thiết, khách quan và bảo đảm đáp ứng tốt hơn yêu cầu công tác tạm giữ, tạm giam trong thời gian tới. Do đó, việc Bộ Công an xây dựng, soạn thảo dự án Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú là hoàn toàn phù hợp, đáp ứng yêu cầu khách quan của thời đại, tiếp tục nâng cao, bảo đảm hiệu quả công tác thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú; đổi mới phương thức quản lý, giám sát đối với người bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Qua đó góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đề cao hiệu quả phòng ngừa trong việc xử lý người phạm tội, bảo vệ quyền con người, quyền công dân và lợi ích của tổ chức, cá nhân./.
Phương Thảo