Cần thiết xây dựng Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù
Cập nhật ngày: 22-07-2025
Dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù do Bộ Công an chủ trì soạn thảo nhằm tạo cơ sở pháp lý cho công tác chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù. Đồng thời, tháo gỡ vướng mắc, bất cập trong quá trình triển khai thi hành Luật Tương trợ tư pháp trong tình hình mới.
Theo đó, Luật Tương trợ tư pháp được Quốc hội khóa XII thông qua tại kỳ họp thứ 2 ngày 21/11/2007, có hiệu lực kể từ 01/7/2008. Luật gồm 7 chương với 72 điều quy định nguyên tắc, thẩm quyền, trình tự, thủ tục thực hiện Tương trợ tư pháp về dân sự, hình sự, dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù giữa Việt Nam với nước ngoài; trách nhiệm của các cơ quan nhà nước Việt Nam trong Tương trợ tư pháp. Trong đó, hoạt động chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù được quy định tại Chương V (gồm 12 điều, từ Điều 49 đến Điều 60) và một số quy định tại Chương I, Chương VI. Điều 65 của Luật TTTP quy định trách nhiệm của Bộ Công an về việc tiếp nhận, chuyển giao, xem xét, giải quyết các yêu cầu của nước ngoài về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; xem xét và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân và thực hiện hoạt động Tương trợ tư pháp theo thẩm quyền; kiến nghị sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện pháp luật Việt Nam về Tương trợ tư pháp.

Ảnh minh họa
Qua hơn 15 năm triển khai thực hiện Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, công tác chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù đã đạt được nhiều kết quả. Đến nay, Bộ Công an đã tiếp nhận, xử lý 188 hồ sơ yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù (đã chuyển giao 38 phạm nhân cho nước ngoài và tiếp nhận 05 phạm nhân về Việt Nam). Kết quả này góp phần tạo điều kiện tốt hơn cho người đang chấp hành án phạt tù và nâng cao hiệu quả công tác bảo hộ công dân. Bên cạnh kết quả đạt được, quy định về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù trong Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 và hoạt động chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù cũng bộc lộ một số hạn chế, bất cập, còn nhiều quy định chưa phù hợp với tình hình trong giai đoạn hiện nay.
Cụ thể, nguyên tắc hợp tác Tương trợ tư pháp trong Luật được quy định chung, điều chỉnh cả bốn lĩnh vực dân sự, hình sự, dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù. Tuy nhiên, mỗi lĩnh vực lại có đối tượng, phạm vi điều chỉnh với tính chất đặc thù riêng, mục đích và nguyên tắc hợp tác khác nhau, nên khi áp dụng vào từng lĩnh vực lại không giống nhau. Tương trợ tư pháp về hình sự xuất phát từ hoạt động tố tụng hình sự mang tính chất công quyền, còn Tương trợ tư pháp về dân sự lại xuất phát từ yêu cầu giải quyết vụ việc của cá nhân, pháp nhân mang tính chất tư; nguyên tắc trong Tương trợ tư pháp về hình sự là trên cơ sở yêu cầu của nước yêu cầu còn chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù lại chỉ được thực hiện khi có sự đồng ý của người đang chấp hành án phạt tù hay việc áp dụng nguyên tắc có đi có lại trong Tương trợ tư pháp về hình sự, dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù có những yêu cầu chặt chẽ hơn so với Tương trợ tư pháp về dân sự. Bên cạnh đó, chủ thể yêu cầu, chủ thể thực hiện, trình tự, thủ tục, thời gian thực hiện các yêu cầu Tương trợ tư pháp trong từng lĩnh vực hoàn toàn độc lập và khác nhau.
Trên phương diện quản lý nhà nước, Luật Tương trợ tư pháp quy định giao Bộ Tư pháp làm đầu mối giúp Chính phủ quản lý nhà nước chung nhưng như trên đã đề cập mỗi lĩnh vực có đặc thù, nguyên tắc riêng, trình tự, thủ tục độc lập dẫn đến thực tiễn việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan gặp bất cập, hạn chế. Công tác quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp còn nặng về hình thức do chủ yếu chỉ được thực hiện thông qua hoạt động báo cáo trên cơ sở tổng hợp thông tin, số liệu từ các cơ quan đầu mối; các cơ quan đầu mối trong từng lĩnh vực Tương trợ tư pháp khác khó phát huy hết vai trò, trách nhiệm và sự chủ động trong quản lý, chỉ đạo công tác Tương trợ tư pháp ở lĩnh vực riêng do mình phụ trách....
Luật Tương trợ tư pháp hiện hành chưa quy định cụ thể, toàn diện các vấn đề liên quan đến chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù như: Chưa có các quy định về cơ quan có trách nhiệm thông báo cho người đang chấp hành án phạt tù về quyền được chuyển giao; cơ quan có trách nhiệm lập yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù gửi cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài; điều kiện từ chối tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù; nguyên tắc chuyển đổi hình phạt; thẩm quyền xem xét lại bản án; hiệu lực của việc chuyển giao đối với Việt Nam và đối với nước ngoài; xác minh sự đồng ý của người đang chấp hành án phạt tù đối với việc chuyển giao; quá cảnh người đang chấp hành án phạt tù; thời điểm người đang chấp hành án phạt tù có quyền rút đơn xin chuyển giao; tạm đình chỉ xem xét yêu cầu chuyển giao; hủy bỏ quyết định chuyển giao; thời hạn tổ chức bàn giao người đang chấp hành án phạt tù; xử lý tình huống phạm nhân vừa được xem xét giảm án vừa trong quá trình xem xét chuyển giao; các tiêu chí đánh giá tính hợp lệ của hồ sơ yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù... Đặc biệt là vấn đề chuyển đổi hình phạt chỉ được quy định mang tính nguyên tắc tại Điều 58 của Luật Tương trợ tư pháp nên khó áp dụng trên thực tiễn. Việc thiếu các quy định điều chỉnh các quan hệ xã hội trong chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù đã làm giảm hiệu quả hợp tác quốc tế trong chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.
Do đó, để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thi hành Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 và đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra hiện nay, cần thiết phải xây dựng Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù để tạo cơ sở pháp lý hợp tác quốc tế trong chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù./.
Cụ thể, nguyên tắc hợp tác Tương trợ tư pháp trong Luật được quy định chung, điều chỉnh cả bốn lĩnh vực dân sự, hình sự, dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù. Tuy nhiên, mỗi lĩnh vực lại có đối tượng, phạm vi điều chỉnh với tính chất đặc thù riêng, mục đích và nguyên tắc hợp tác khác nhau, nên khi áp dụng vào từng lĩnh vực lại không giống nhau. Tương trợ tư pháp về hình sự xuất phát từ hoạt động tố tụng hình sự mang tính chất công quyền, còn Tương trợ tư pháp về dân sự lại xuất phát từ yêu cầu giải quyết vụ việc của cá nhân, pháp nhân mang tính chất tư; nguyên tắc trong Tương trợ tư pháp về hình sự là trên cơ sở yêu cầu của nước yêu cầu còn chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù lại chỉ được thực hiện khi có sự đồng ý của người đang chấp hành án phạt tù hay việc áp dụng nguyên tắc có đi có lại trong Tương trợ tư pháp về hình sự, dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù có những yêu cầu chặt chẽ hơn so với Tương trợ tư pháp về dân sự. Bên cạnh đó, chủ thể yêu cầu, chủ thể thực hiện, trình tự, thủ tục, thời gian thực hiện các yêu cầu Tương trợ tư pháp trong từng lĩnh vực hoàn toàn độc lập và khác nhau.
Trên phương diện quản lý nhà nước, Luật Tương trợ tư pháp quy định giao Bộ Tư pháp làm đầu mối giúp Chính phủ quản lý nhà nước chung nhưng như trên đã đề cập mỗi lĩnh vực có đặc thù, nguyên tắc riêng, trình tự, thủ tục độc lập dẫn đến thực tiễn việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan gặp bất cập, hạn chế. Công tác quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp còn nặng về hình thức do chủ yếu chỉ được thực hiện thông qua hoạt động báo cáo trên cơ sở tổng hợp thông tin, số liệu từ các cơ quan đầu mối; các cơ quan đầu mối trong từng lĩnh vực Tương trợ tư pháp khác khó phát huy hết vai trò, trách nhiệm và sự chủ động trong quản lý, chỉ đạo công tác Tương trợ tư pháp ở lĩnh vực riêng do mình phụ trách....
Luật Tương trợ tư pháp hiện hành chưa quy định cụ thể, toàn diện các vấn đề liên quan đến chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù như: Chưa có các quy định về cơ quan có trách nhiệm thông báo cho người đang chấp hành án phạt tù về quyền được chuyển giao; cơ quan có trách nhiệm lập yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù gửi cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài; điều kiện từ chối tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù; nguyên tắc chuyển đổi hình phạt; thẩm quyền xem xét lại bản án; hiệu lực của việc chuyển giao đối với Việt Nam và đối với nước ngoài; xác minh sự đồng ý của người đang chấp hành án phạt tù đối với việc chuyển giao; quá cảnh người đang chấp hành án phạt tù; thời điểm người đang chấp hành án phạt tù có quyền rút đơn xin chuyển giao; tạm đình chỉ xem xét yêu cầu chuyển giao; hủy bỏ quyết định chuyển giao; thời hạn tổ chức bàn giao người đang chấp hành án phạt tù; xử lý tình huống phạm nhân vừa được xem xét giảm án vừa trong quá trình xem xét chuyển giao; các tiêu chí đánh giá tính hợp lệ của hồ sơ yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù... Đặc biệt là vấn đề chuyển đổi hình phạt chỉ được quy định mang tính nguyên tắc tại Điều 58 của Luật Tương trợ tư pháp nên khó áp dụng trên thực tiễn. Việc thiếu các quy định điều chỉnh các quan hệ xã hội trong chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù đã làm giảm hiệu quả hợp tác quốc tế trong chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.
Do đó, để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thi hành Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 và đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra hiện nay, cần thiết phải xây dựng Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù để tạo cơ sở pháp lý hợp tác quốc tế trong chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù./.
Phương Thảo
Các tin khác
-
-
-

Đang online: 1 Hôm nay: 21009 Trong tuần: 40 Trong tháng 79808 Tất cả: 28633071



.jpg)






