Để bảo đảm triển khai hiệu quả Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân khi Luật này có hiệu lực thi hành, các cơ quan, tổ chức, cá nhân cần nắm một số nội dung cơ bản như sau:
Đại biểu Quốc hội biểu quyết thông qua Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân
Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng: Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam; cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam; cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài trực tiếp tham gia hoặc có liên quan đến hoạt động xử lý dữ liệu cá nhân của công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam chưa xác định được quốc tịch đang sinh sống tại Việt Nam đã được cấp giấy chứng nhận căn cước.
Các hành vi bị nghiêm cấm liên quan đến dữ liệu cá nhân
- Xử lý dữ liệu cá nhân nhằm chống lại Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, gây ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh Quốc gia, trật tự an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân;
- Cản trở hoạt động bảo vệ dữ liệu cá nhân;
- Lợi dụng hoạt động bảo vệ dữ liệu cá nhân để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật;
- Xử lý dữ liệu cá nhân trái quy định của pháp luật;
- Sử dụng dữ liệu cá nhân của người khác, cho người khác sử dụng dữ liệu cá nhân của mình để thực hiện hành vi trái quy định của pháp luật;
- Mua, bán dữ liệu cá nhân, trừ trường hợp luật có quy định khác;
- Chiếm đoạt, cố ý làm lộ, làm mất dữ liệu cá nhân.
Về xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân
Tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan đến bảo vệ dữ liệu cá nhân thì tùy theo tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm có thể bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật. Cụ thể:
+ Mức phạt tiền tối đa trong xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi mua, bán dữ liệu cá nhân là 10 lần khoản thu có được từ hành vi vi phạm. Trường hợp không có khoản thu từ hành vi vi phạm hoặc mức phạt tính theo khoản thu có được từ hành vi vi phạm thấp hơn mức phạt tiền tối đa quy định tại khoản 5 Điều này thì áp dụng mức phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 8.
+ Mức phạt tiền tối đa trong xử phạt vi phạm hành chính đối với tổ chức có hành vi vi phạm quy định chuyển dữ liệu cá nhân xuyên biên giới là 5% doanh thu của năm trước liền kề của tổ chức đó. Trường hợp không có doanh thu của năm trước liền kề hoặc mức phạt tính theo doanh thu thấp hơn mức phạt tiền tối đa theo quy định tại khoản 5 Điều này thì áp dụng mức phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 8.
+ Mức phạt tiền tối đa trong xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạm khác trong lĩnh vực bảo vệ dữ liệu cá nhân là 03 tỷ đồng.
Bên cạnh đó, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân còn quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân trong một số hoạt động như: Bảo vệ dữ liệu cá nhân của trẻ em, người bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; bảo vệ dữ liệu cá nhân trong tuyển dụng, quản lý, sử dụng người lao động; bảo vệ dữ liệu cá nhân đối với thông tin sức khỏe và trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm; bảo vệ dữ liệu cá nhân trong hoạt động tài chính, ngân hàng, hoạt động thông tin tín dụng; bảo vệ dữ liệu cá nhân trong kinh doanh dịch vụ quảng cáo; bảo vệ dữ liệu cá nhân đối với các nền tảng mạng xã hội, dịch vụ truyền thông trực tuyến; bảo vệ dữ liệu cá nhân trong xử lý dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, chuỗi khối, vũ trụ ảo, điện toán đám mây; bảo vệ dữ liệu cá nhân đối với dữ liệu vị trí cá nhân, dữ liệu sinh trắc học; bảo vệ dữ liệu cá nhân thu được từ hoạt động ghi âm, ghi hình tại nơi công cộng, hoạt động công cộng…
Việc thông qua và ban hành Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân trong sẽ góp phần nâng cao quyền con người, quyền công dân, nâng cao hiệu quả công tác bảo đảm an toàn, an ninh mạng, an ninh thông tin, an ninh dữ liệu. Thúc đẩy tiến trình xây dựng Chính phủ điện tử, Chính phủ số, kinh tế số trong thời gian tới./.
Phương Thảo