Bố cục, nội dung cơ bản của dự thảo Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú
Cập nhật ngày: 27-08-2025
 
Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam được Quốc hội khóa XIII, Kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 25/11/2015, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018 theo Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội. Qua hơn 07 năm thi hành, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng để thống nhất tổ chức, triển khai thực hiện có hiệu quả công tác tạm giữ, tạm giam, đáp ứng yêu cầu quản lý người bị tạm giữ, người bị tạm giam, công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, qua đó, đánh dấu bước tiến mới trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật về an ninh, trật tự nói riêng.
 
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, quá trình thi hành Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam vẫn còn bộc lộ một số khó khăn, vướng mắc, chưa thật sự đáp ứng nhu cầu trong tình hình mới hiện nay. Do đó, để tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác thi hành tạm giữ, tạm giam, Bộ Công an đã chủ trì soạn thảo dự án Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú trình Quốc hội khóa XV.
 

Phạm nhân được phổ biến một số chính sách, quy định pháp luật

Dự án Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú điều chỉnh về hệ thống tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú; chế độ quản lý giam giữ; chế độ của người bị tạm giữ, người bị tạm giam, người bị kết án tử hình đang bị tạm giam; người bị tạm giữ, người bị tạm giam là người dưới 18 tuổi, phụ nữ có thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi; thi hành quyết định cấm đi khỏi nơi cư trú; khiếu nại tố cáo trong quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam; trách nhiệm quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú. Tuy nhiên, sẽ sửa đổi cơ bản các quy định trong Luật thi hành tạm giữ, tạm giam hiện hành nhằm giải quyết những tồn tại, khó khăn trong quá trình thực hiện Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin trong công tác thi hành tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú.

Về bố cục, dự thảo luật gồm 13 chương, 93 điều (tăng 20 điều so với Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam), trong đó, sửa đổi, bổ sung nội dung 53 điều, xây dựng mới 22 điều, bỏ 02 điều. Cụ thể:

Chương I: Những quy định chung (gồm 08 điều, từ Điều 1 đến Điều 8)

- Chương này quy định về phạm vi điều chỉnh; giải thích từ ngữ; nguyên tắc quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú; trách nhiệm phối hợp của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú; kiểm sát hoạt động quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú; giám sát việc thực hiện chế độ tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú; những hành vi bị nghiêm cấm; quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ, người bị tạm giam.

- So với Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015, Chương này bỏ 01 điều về đối tượng áp dụng cho phù hợp với quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Đồng thời, sửa đổi, bổ sung một số nội dung chính:

+ Sửa đổi, bổ sung quy định về “Phạm vi điều chỉnh” tại Điều 1 theo hướng mở rộng phạm vi điều chỉnh của Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam bổ sung quy định về thi hành biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; việc sửa đổi nội dung của điều này để phù hợp với bố cục, nội dung được quy định trong dự thảo luật này;

+ Bổ sung giải thích từ ngữ về: (1) Người bị cấm đi khỏi nơi cư trú; (2) Giám sát điện tử; (3) Thiết bị giám sát điện tử; (4) Trung tâm quản lý, giám sát người chấp hành biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; (5) Hệ thống máy chủ giám sát. Việc bổ sung này nhằm tạo sự thống nhất trong cách hiểu thuật ngữ được sử dụng trong dự thảo luật;

+ Sửa đổi giải thích từ ngữ về thân nhân của người bị tạm giữ, người bị tạm giam theo hướng thân nhân của người bị tạm giữ, người bị tạm giam bao gồm: Vợ, chồng, bố đẻ, mẹ đẻ, bố chồng, mẹ chồng, bố vợ, mẹ vợ, bố nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi, con dâu, con rể; ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột; cụ nội, cụ ngoại, bác ruột, chú ruột, cậu ruột, dì ruột, cô ruột, cháu ruột của họ.Việc sửa đổi này tạo sự thống nhất trong cách hiểu trong dự thảo luật và giải quyết khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, người bị tạm giam;

+ Bổ sung các quy định có liên quan đến thi hành biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và ứng dụng khoa học, công nghệ trong quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú. Việc bổ sung này để hoàn thiện quy định về tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú.

Chương II: Về hệ thống tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú (gồm 7 điều, từ Điều 9 đến Điều 15)

- Chương này quy định về hệ thống tổ chức cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú; hệ thống tổ chức cơ quan thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú; nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú; nhiệm vụ, quyền hạn của nhà tạm giữ, trại tạm giam; cơ cấu, tổ chức của nhà tạm giữ, trại tạm giam; buồng tạm giữ thuộc đồn biên phòng; trách nhiệm của Công an cấp xã trong thi hành biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

- So với Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015, Chương này bổ sung 01 Điều và sửa đổi, bổ sung một số nội dung:

+ Bổ sung 01 điều quy định về trách nhiệm của Công an cấp xã trong thi hành biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (Điều 15), theo đó trong thi hành biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú Công an xã có trách nhiệm: (1) Tiếp nhận người chấp hành biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đến trình diện; (2) Quản lý, cấp, gắn, thu hồi thiết bị giám sát điện tử cho người chấp hành biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; (3) Quản lý, giám sát người chấp hành biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại nơi cư trú; lập biên bản người chấp hành biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú vi phạm nghĩa vụ; (4) Thông báo cho cơ quan có thẩm quyền về việc người chấp hành biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú vi phạm nghĩa vụ; (5) Xác minh, kiểm danh, kiểm diện khi người chấp hành biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú nhận được thông báo của Trung tâm quản lý, giám sát cấp huyện về việc người đó có hành vi phá hủy, làm mất tính năng, tác dụng của thiết bị giám sát điện tử; đi khỏi nơi cư trú mà không xin phép;

+ Bổ sung quy định nhiệm vụ quyền hạn của cơ quan quản lý trong quản lý, vận hành Trung tâm quản lý, giám sát và nhiệm vụ điều chuyển người bị tạm giữ từ các buồng tạm giữ của đồn Biên phòng đến các cơ sở giam giữ trong Công an nhân dân; sửa đổi cơ cấu, tổ chức của nhà tạm giữ, trại tạm giam theo hướng bổ sung nhà tạm giữ có phòng là điểm cầu thành phần đề phục vụ xét xử trực tuyến, trung tâm chỉ huy điều hành phục vụ việc kiểm tra, giám sát, phân tích hình ảnh; bổ sung trách nhiệm của Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định về trình độ, tiêu chuẩn của Trưởng nhà tạm giữ, Phó Trưởng nhà tạm giữ, Giám thị, Phó Giám thị, Trưởng phân trại, Phó Trưởng phân trại, Đội trưởng, Phó Đội trưởng trại tạm giam; bổ sung trách nhiệm của Bộ trưởng Bộ Công an trên cơ sở thống nhất với Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và các bộ có liên quan quy định về quy chuẩn kỹ thuật trong thiết kế và xây dựng các cơ sở giam giữ và các tiêu chuẩn ứng dụng khoa học, công nghệ trong quản lý cơ sở giam giữ đảm bảo an toàn tuyệt đối.

Chương III: Về chế độ quản lý giam giữ (gồm 12 điều, từ Điều 16 đến Điều 27)

- Chương này quy định về tiếp nhận người bị tạm giữ, người bị tạm giam; hồ sơ quản lý tạm giữ, tạm giam; phân loại quản lý người bị tạm giữ, người bị tạm giam; chế độ quản lý đối với người bị tạm giữ, người bị tạm giam; thực hiện trích xuất người bị tạm giữ, người bị tạm giam; chuyển giao người bị tạm giữ, người bị tạm giam; việc gặp thân nhân, người bào chữa, của người bị tạm giữ, người bị tạm giam; việc tiếp xúc lãnh sự của người bị tạm giữ, người bị tạm giam; kỷ luật người bị tạm giữ, người bị tạm giam vi phạm nội quy của cơ sở giam giữ, chế độ quản lý giam giữ; quản lý đồ vật, tư trang, tiền, tài sản của người bị tạm giữ, người bị tạm giam; giải quyết trường hợp người bị tạm giữ, người bị tạm giam bỏ trốn; giải quyết trường hợp người bị tạm giữ, người bị tạm giam chết.

- So với Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015, Chương này bổ sung 01 Điều và sửa đổi, bổ sung một số nội dung:

+ Bổ dung 01 điều về việc tiếp xúc lãnh sự của người bị tạm giữ, người bị tạm giam, trong đó quy định cụ thể về: tiếp xúc lãnh sự; việc tổ chức cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam là người nước ngoài tiếp xúc lãnh sự; các trường hợp không giải quyết tiếp xúc lãnh sự; trách nhiệm của các cơ quan trong tổ chức tiếp xúc lãnh sự; thời gian tiếp xúc lãnh sự.

+ Bổ sung quy định chính như sau: (1) Trách nhiệm thực hiện ngay các công việc khi tiếp nhận người bị tạm giữ, người bị tạm giam, riêng đối với một số nhiệm vụ như lập danh chỉ bản, khám sức khoẻ sẽ quy định cụ thể thời hạn thực hiện đảm bảo phù hợp thực tiễn; bổ sung nội dung về thu thập sinh trắc học đối với người bị tạm giữ, người bị tạm giam gồm ảnh khuôn mặt, vân tay, mống mắt, ADN, giọng nói; (2) Quy định về trước thời điểm tổ chức tiếp nhận mà người bị tạm giữ, tạm giam bị bệnh nặng cần kịp thời điều trị, cứu chữa tại cơ sở y tế theo hướng người đã có lệnh, quyết định tạm giữ, tạm giam bị thương tích, bệnh nặng cần phải điều trị, cứu chữa tại cơ sở y tế, nếu không sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ hoặc đe doạ đến tính mạng của họ thì cơ quan đang thụ lý vụ án áp giải ngay người đó đến cơ sở y tế và phối hợp với cơ sở giam giữ, cơ sở y tế tổ chức bàn giao, tiếp nhận và quản lý theo quy định; (3) Quy định về sinh trắc học đối với người bị tạm giữ, người bị tạm giam gồm ảnh khuôn mặt, vân tay, mống mắt, ADN, giọng nói vào khoản 1 của Điều luật và cụ thể các tài liệu hồ sơ kèm theo khi bàn giao người bị tạm giữ, người bị tạm giam; (4) Thẩm quyền của Trưởng nhà tạm giữ, Giám thị trại tạm giam, Trưởng buồng tạm giữ đồn biên phòng phối hợp với cơ quan đang thụ lý vụ án quyết định bằng văn bản những người đang bị quản lý, giam giữ tại cơ sở giam giữ được giam giữ chung; bổ sung quy định bố trí theo khu và phân loại đối với người bị tạm giữ, người bị tạm giam là người bị nhiễm HIV/AIDS và phạm nhân; (5) Quy định về việc áp giải, quản lý và kinh phí bảo đảm thực hiện chế độ ăn, ở, sinh hoạt đối với người được trích xuất, trong đó đối với trường hợp thực hiện trích xuất người bị tạm giữ, người bị tạm giam phục vụ công tác xét xử thì không giao cho cơ quan, người có thẩm quyền ra lệnh trích xuất mà người này vẫn thuộc quản lý của cơ quan thực hiện nhiệm vụ áp giải.

Chương IV: Về chế độ của người bị tạm giữ, người bị tạm giam (gồm 05 điều, từ Điều 28 đến Điều 32). Chương này quy định về các chế độ ăn, ở; mặc và tư trang; gửi, nhận thư, sách, báo và tài liệu; chăm sóc y tế; sinh hoạt tinh thần của người bị tạm giữ, người bị tạm giam.

Chương V: Chế độ của người bị tạm giữ, người bị tạm giam là người dưới 18 tuổi, phụ nữ có thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi (gồm 04 điều, từ Điều 33 đến Điều 36). Chương này quy định về: Phạm vi áp dụng; chế độ ăn, ở và quản lý và gặp thân nhân, người bào chữa, tiếp xúc lãnh sự của người bị tạm giữ, người bị tạm giam là người dưới 18 tuổi; chế độ ăn, ở và quản lý đối với người bị tạm giữ, người bị tạm giam là phụ nữ có thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi.

Chương VI: Chế độ của người bị kết án tử hình đang bị tạm giam (gồm 02 điều, Điều 37 và Điều 38).

Chương này quy định về phạm vi áp dụng; chế độ ăn, ở và quản lý giam giữ đối với người bị kết án tử hình. So với Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015, chương này sửa đổi, bổ sung một số nội dung chính sau: Việc sử dụng quà, tiền gửi lưu ký để ăn thêm của người bị tạm giữ, người bị tạm giam theo hướng phù hợp với thực tiễn; định lượng quà là đồ ăn, uống cho mỗi lần gửi của người bị tạm giữ, người bị tạm; định mức ăn của người bị tạm giữ, người bị tạm giam là người nước ngoài; quy định về gửi, nhận thư, sách báo tài liệu của người bị tạm giữ, người bị tạm giam; quy định về chế độ, kinh phí khám bệnh, chữa bệnh, phòng, chống dịch bệnh của người bị tạm giữ, người bị tạm giam; quy định cụ thể về số lần cấp phát báo cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam; quy định về ưu tiên ứng dụng khoa học công nghệ thông tin trong quản lý giam giữ đối với người thi hành án tử hình đảm bảo an toàn.

Chương VII: Thi hành biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (gồm 09 điều, từ Điều 39 đến Điều 47)

Chương này quy định về: Gửi lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; nghĩa vụ của người chấp hành biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; trường hợp giám sát điện tử; trình tự, thủ tục, hồ sơ thi hành lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; việc lao động, học tập của người chấp hành biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; giải quyết vắng mặt tại nơi cư trú; giải quyết trong trường hợp thay đổi nơi cư trú; xử lý trường hợp người chấp hành biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú vi phạm nghĩa vụ.

Để khắc phục những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn thi hành biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đã nêu ở trên, cần thiết phải bổ sung quy định trình tự, thủ tục, hồ sơ thi hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, theo dõi người được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; về việc lao động, học tập của người được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; giải quyết việc vắng mặt tại nơi cư trú của người được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; áp dụng giám sát điện tử phòng ngừa người được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú bỏ trốn hoặc tiếp tục phạm tội; quan hệ phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức có liên quan trong thi hành giám sát điện tử.

Giám sát điện tử được áp dụng đối với người bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú bằng cách gắn thiết bị giám sát điện tử (vòng đeo tay hoặc đeo chân) trong thời gian áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú để theo dõi quản lý di biến động của các đối tượng, có thể nhận dạng từ xa, theo dõi vị trí của người đó và có một hệ thống tích hợp để giám sát việc tháo, mở thiết bị trái phép. Do đó, Luật mở rộng phạm vi điều chỉnh bổ sung quy định về thi hành biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

Chương VIII: Bảo đảm điều kiện quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú (gồm 03 điều, từ Điều 48 đến Điều 50)

Chương này quy định về bảo đảm biên chế, nhân lực, cơ sở vật chất, kinh phí phục vụ quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú; sử dụng vũ khí, phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ, công cụ hỗ trợ; chế độ, chính sách đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú. So với Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015, chương này cơ bản giữ nguyên các nội dung của Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 chỉ bổ sung nội dung về cấm đi khỏi nơi cư trú vào Điều luật và bỏ Điều luật quy định về cơ sở dữ liệu về thi hành tạm giữ, tạm giam

Chương IX: Cơ sở dữ liệu về thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú (gồm 11 điều, từ Điều 51 đến Điều 61)

Chương này quy định về nguyên tắc xây dựng, quản lý, sử dụng cơ sở dữ liệu; các hành vi bị nghiêm cấm trong xây dựng, quản lý, sử dụng cơ sở dữ liệu; kinh phí bảo đảm cho việc xây dựng, quản lý, sử dụng cơ sở dữ liệu; cơ sở dữ liệu về thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú; hệ cơ sở dữ liệu về thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú trong Công an nhân dân; hệ cơ sở dữ liệu về thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú trong Quân đội nhân dân; thông tin về tình hình, kết quả thi hành tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú và thông tin cơ bản về người bị tạm giữ, người bị tạm giam, người bị cấm đi khỏi nơi cư trú; xây dựng cơ sở dữ liệu; lưu trữ, bảo quản cơ sở dữ liệu; khai thác và sử dụng cơ sở dữ liệu; trao đổi dữ liệu giữa cơ sở dữ liệu về thi hành tạm giữ, tạm giam, cấm đi khổi nơi cư trú và các cơ sở dữ liệu khác liên quan. Việc bổ sung chương này nhằm luật hoá các quy định đã trương đối ổn định, trong quá trình thực hiện không phát sinh khó khăn, vướng mắc đã được Chính phủ quy định tại Nghị định số 121/2017/NĐ-CP ngày 06/11/2017 của Chính phủ quy định xây dựng, quản lý, sử dụng cơ sở dữ liệu về thi hành tạm giữ, tạm giam.

Chương X: Kiểm sát, quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú (gồm 02 điều Điều 62 và Điều 63). Chương này quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân khi kiểm sát quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú và trách nhiệm thực hiện yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị, quyết định của Viện kiểm sát nhân dân trong quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam.

Chương XI: Khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú (gồm 02 mục và 18 điều, từ Điều 64 đến Điều 81).

- Mục 1 (từ Điều 64 đến Điều 75) quy định khiếu nại và giải quyết khiếu nại trong quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú, trong đó quy định về một số nội dung như: Khiếu nại trong quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú; những trường hợp khiếu nại không được thụ lý giải quyết; thẩm quyền giải quyết khiếu nại; quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại, của người bị khiếu nại; nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân; thời hạn giải quyết khiếu nại và gửi quyết định giải quyết khiếu nại; hồ sơ giải quyết khiếu nại; trình tự, nội dung quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu; thủ tục, nội dung quyết định giải quyết khiếu nại lần hai;

- Mục 2 (từ Điều 76 đến Điều 81) quy định về tố cáo và giải quyết tố cáo trong quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú, trong đó quy định về một số nội dung như: Tố cáo trong quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú; quyền và nghĩa vụ của người tố cáo, của người bị tố cáo; hồ sơ, thẩm quyền, thủ tục, thời hạn giải quyết tố cáo; trách nhiệm của người có thẩm quyền giải quyết tố cáo.

- So với Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015, các chương này cơ bản giữ nguyên các nội dung của Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 chỉ bổ sung nội dung về cấm đi khỏi nơi cư trú vào Điều luật.

Chương XII. Trách nhiệm trong quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú (gồm 10 điều, từ Điều 82 đến Điều 91).

Chương này quy định về trách nhiệm của Chính phủ, các Bộ: Công an, Quốc phòng, Y tế, Lao động - Thương binh và Xã hội, Tài chính, Kế hoạch và Đầu tư; Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Tòa án nhân dân tối cao; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú. So với Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015, chương này giữ nguyên số điều, trong đó sửa đổi, bổ sung trách nhiệm của Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc Phòng và các bộ liên quan xây dựng, ban hành quy chuẩn kỹ thuật trong thiết kế và xây dựng mô hình cơ sở giam giữ, các tiêu chuẩn ứng dụng khoa học, công nghệ trong quản lý cơ sở giam giữ; trách nhiệm của Bộ Quốc phòng trong phối hợp với Bộ Công an và các bộ liên quan xây dựng, ban hành quy chuẩn kỹ thuật trong thiết kế và xây dựng mô hình cơ sở giam giữ, các tiêu chuẩn ứng dụng khoa học, công nghệ trong quản lý cơ sở giam giữ.

Chương XIII: Điều khoản thi hành (gồm Điều 92 và Điều 93). Trong đó quy định thời điểm Luật có hiệu lực thi hành và quy định chi tiết, đồng thời, bổ sung thời điểm có hiệu lực thi hành đối với quy định về giám sát điện tử cho phù hợp.

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015, dự thảo Luật thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú đã sửa đổi, bổ sung một số nội dung mới. Qua đó, giải quyết những tồn tại, khó khăn trong quá trình thực hiện Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam, góp phần thể chế hóa các chủ trương, chính sách của Đảng trong việc áp dụng khoa học - kỹ thuật, công nghệ thông tin trong quốc phòng, an ninh, đổi mới phương thức quản lý, giám sát đối với người thi hành tạm giữ, tạm giam cũng như ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin trong công tác thi hành tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú./.
 

Phương Thảo