Cần thiết xây dựng dự án Luật Bảo vệ bí mật nhà nước (sửa đổi)
Cập nhật ngày: 17-09-2025
 
Luật Bảo vệ bí mật nhà nước được Quốc hội khóa XIV thông qua ngày 15/11/2018 tại kỳ họp thứ 6, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2020. Qua 05 năm triển khai thực hiện Luật Bảo vệ bí mật nhà nước và các văn bản hướng dẫn thi hành, công tác bảo vệ bí mật nhà nước đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần bảo vệ, giữ vững an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
 
Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, công tác bảo vệ bí mật nhà nước còn những tồn tại, hạn chế. Một số quy định của Luật Bảo vệ bí mật nhà nước chưa phù hợp với thực tiễn, chưa đáp ứng mô hình chính quyền địa phương 02 cấp, yêu cầu phát triển khoa học công nghệ và chuyển đổi số trong giai đoạn hiện nay.
 

Ảnh minh họa

Cụ thể, về soạn thảo, lưu giữ, đăng tải, truyền đưa bí mật nhà nước, Luật Bảo vệ bí mật nhà nước nghiêm cấm hành vi soạn thảo, lưu giữ tài liệu có chứa nội dung bí mật nhà nước trên máy tính hoặc thiết bị khác đã kết nối hoặc đang kết nối với mạng Internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, trừ trường hợp lưu giữ bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật về cơ yếu (khoản 5 Điều 5); truyền đưa bí mật nhà nước trên phương tiện thông tin, viễn thông trái với quy định của pháp luật về cơ yếu (khoản 6 Điều 5); đăng tải bí mật nhà nước trên mạng máy tính (khoản 9 Điều 5). Quy định này đã phát sinh nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện, vì hầu hết hiện nay các ban, bộ, ngành, địa phương sử dụng máy tính có kết nối với nhau để soạn thảo, lưu giữ, gửi nhận bí mật nhà nước, những mạng này được kết nối, hoạt động độc lập với mạng Internet và được thiết lập trong khu vực phạm vi trụ sở làm việc của cơ quan, tổ chức nên việc bắt buộc trang bị giải pháp cơ yếu khi soạn thảo, lưu giữ, đăng tải, truyền đưa bí mật nhà nước trên mạng máy tính (bao gồm cả mạng LAN độc lập, riêng biệt) không bảo đảm tính khả thi và tốn kém nhiều kinh phí để thực hiện.

Về phạm vi bí mật nhà nước, để phù hợp với ngành, lĩnh vực sau sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy một số cơ quan ở Trung ương, địa phương và phù hợp với chủ trương đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới, sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia, tăng cường hội nhập quốc tế, cần sửa đổi, bổ sung phạm vi bí mật nhà nước làm cơ sở để Thủ tướng Chính phủ quyết định ban hành danh mục bí mật nhà nước bảo đảm thống nhất, chính xác, toàn diện.

Về thẩm quyền xác định bí mật nhà nước và độ mật bí mật nhà nước, tại Điều 10 Luật Bảo vệ bí mật nhà nước quy định người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xác định bí mật nhà nước và độ mật bí mật nhà nước nên đã gây khó khăn trong quá trình áp dụng khi việc quyết định độ mật chỉ có người đứng đầu, trong khi lĩnh vực công tác đã được phân công cho cấp phó phụ trách, chịu trách nhiệm, đặc biệt khi người đứng đầu đi công tác, vắng mặt tại cơ quan sẽ dẫn đến nhiều công việc liên quan đến bí mật nhà nước không được xử lý kịp thời. Quy định trên tài liệu phải thể hiện nội dung được phép hoặc không được phép sao, chụp cũng ảnh hưởng đến việc triển khai các văn bản bí mật nhà nước và hạn chế thẩm quyền của người được Luật quy định có thẩm quyền cho phép sao, chụp.

Về hình thức văn bản quy định danh mục bí mật nhà nước và chủ thể lập danh mục bí mật nhà nước đối với danh mục bí mật nhà nước của tổ chức chính trị - xã hội.

Về hình thức văn bản quy định danh mục bí mật nhà nước: Luật Bảo vệ bí mật nhà nước quy định trình tự, thủ tục ban hành danh mục bí mật nhà nước theo trình tự, thủ tục ban hành văn bản hành chính nhưng chưa quy định rõ hình thức của văn bản này dẫn đến cách hiểu khác nhau của một số cơ quan, tổ chức trong quá trình lập danh mục. Do đó, cần quy định cụ thể hình thức của văn bản này để áp dụng thống nhất.

Về chủ thể lập danh mục bí mật nhà nước đối với danh mục bí mật nhà nước của tổ chức chính trị - xã hội: theo quy định của Luật Bảo vệ bí mật nhà nước thì người đứng đầu cơ quan Trung ương của tổ chức chính trị - xã hội lập danh mục bí mật nhà nước của tổ chức chính trị - xã hội. Ngày 12/4/2025, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành Nghị quyết số 60-NQ/TW, trong đó đồng ý chủ trương sắp xếp, tinh gọn hợp nhất cơ quan Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội. Do đó, cần sửa đổi, bổ sung chủ thể lập danh mục bí mật nhà nước của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và tổ chức chính trị - xã hội cho phù hợp với chủ trương của Đảng và Nghị quyết số 203.

Về thẩm quyền sao, chụp tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước, thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước về tổ chức lại đơn vị hành chính các cấp và xây dựng mô hình chính quyền địa phương 02 cấp tại Kết luận số 127-KL/TW ngày 28/02/2025, Kết luận số 137-KL/TW ngày 28/3/2025, Quyết định số 759/QĐ-TTg ngày 14/4/2025 và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025.

Về mang tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước ra khỏi nơi lưu giữ phục vụ công tác trong nước. Tại khoản 1 Điều 14 Luật Bảo vệ bí mật nhà nước quy định việc mang tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước ra khỏi nơi lưu giữ phục vụ công tác trong nước phải được người đứng đầu hoặc cấp phó được ủy quyền của người đứng đầu cơ quan, tổ chức trực tiếp quản lý bí mật nhà nước cho phép.

Về thẩm quyền quyết định cung cấp, chuyển giao bí mật nhà nước độ Tuyệt mật cho cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài. Theo đó, Luật Bảo vệ bí mật nhà nước quy định Thủ tướng Chính phủ là người duy nhất có thẩm quyền cho phép cung cấp, chuyển giao bí mật nhà nước độ Tuyệt mật cho cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài. Tuy nhiên, trên thực tiễn áp dụng quy định này còn gặp khó khăn. Do đó, cần mở rộng thẩm quyền cung cấp, chuyển giao bí mật nhà nước độ Tuyệt mật cho cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài để đáp ứng yêu cầu thực tiễn.

Về xác định thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước. Khoản 2 Điều 19 Luật Bảo vệ bí mật nhà nước quy định trường hợp thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước về hoạt động ngắn hơn thời hạn theo quy định của Luật thì phải xác định cụ thể tại tài liệu. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng quy định này còn có cách hiểu khác nhau đối với việc xác định cụ thể tại tài liệu. Do đó, cần sửa đổi, bổ sung quy định này để áp dụng thống nhất, tránh cách hiểu khác nhau.

Về thu hồi tài liệu sau hội nghị, hội thảo, cuộc họp có nội dung bí mật nhà nước của cơ quan, tổ chức Việt Nam: Điểm e khoản 1 Điều 17 Luật Bảo vệ bí mật nhà nước quy định tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước phải được thu hồi sau hội nghị, hội thảo, cuộc họp. Tuy nhiên, khi thực hiện quy định trên gặp nhiều vướng mắc, bất cập trong thực tiễn, đặc biệt là các hội nghị tập huấn, tổng kết, triển khai công tác năm, cần thiết phải phát tài liệu cho đại biểu tham dự để nghiên cứu, triển khai sau hội nghị, hội thảo. Vì vậy, cần sửa đổi, bổ sung quy định này nhằm phù hợp với thực tiễn công tác của cơ quan, tổ chức và tính chất hội nghị, hội thảo, cuộc họp có nội dung bí mật nhà nước hiện nay.

Về gia hạn thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước, Luật Bảo vệ bí mật nhà nước quy định khi hết thời hạn bảo vệ 10 năm đối với bí mật nhà nước độ Mật, 20 năm đối với bí mật nhà nước độ Tối mật, 30 năm đối với bí mật nhà nước độ Tuyệt mật thì cơ quan, tổ chức xác định bí mật nhà nước xem xét tiến hành gia hạn thời hạn bảo vệ nếu việc giải mật gây nguy hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc. Tuy nhiên, thực tiễn phát sinh việc cần thiết phải gia hạn thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước trong trường hợp thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước kết thúc trước thời hạn 10 năm hoặc 20 năm hoặc 30 năm (theo quy định tại khoản 2 Điều 19) nhưng do điều kiện khách quan cần thiết phải gia hạn thời hạn để bảo vệ, chưa được quy định trong Luật Bảo vệ bí mật nhà nước, như: trong hoạt động bắt, khám xét (đối tượng bỏ trốn hoặc vắng mặt), hoạt động thanh tra, kiểm tra, giải quyết tố cáo…(thay đổi thời gian công khai kết luận thanh tra, kiểm tra, giải quyết tố cáo). Do đó, cần thiết phải bổ sung trường hợp này để phòng ngừa lộ, mất bí mật nhà nước.

Về trách nhiệm của người đứng đầu của cơ quan, tổ chức trực tiếp quản lý bí mật nhà nước. Luật Bảo vệ bí mật nhà nước (khoản 1 Điều 25) quy định người đứng đầu cơ quan, tổ chức trực tiếp quản lý bí mật nhà nước có trách nhiệm ban hành nội quy bảo vệ bí mật nhà nước trong cơ quan, tổ chức. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai thực hiện quy định này cho thấy, cơ quan, tổ chức trực tiếp quản lý bí mật nhà nước gồm nhiều cấp khác nhau: cấp vụ, cục; cấp sở, ban, ngành; cấp xã, phòng, đội (đối với lực lượng vũ trang). Trong khi đó, những đơn vị này có tổ chức bộ máy đơn giản, số lượng công chức, viên chức, sĩ quan, người lao động không lớn nên việc bắt buộc phải ban hành nội quy bảo vệ bí mật nhà nước là không cần thiết….
         
Do đó, để khắc phục những vướng mắc, bất cập nêu trên, phù hợp với mô hình tổ chức bộ máy sau tinh gọn và kịp thời thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng về đổi mới sáng tạo, phát triển khoa học công nghệ, chuyển đổi số thì việc xây dựng Luật Bảo vệ bí mật nhà nước (sửa đổi) là yêu cầu khách quan và cần thiết./.
 
Phương Thảo