Cần thiết sửa đổi, bổ sung Luật Phòng, chống ma túy
Cập nhật ngày: 20-10-2025
Thời gian qua, Đảng, Nhà nước đã có nhiều chủ trương, giải pháp chỉ đạo triển khai quyết liệt, tăng cường, nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy, bảo đảm tính xuyên suốt giữa hoạt động giảm cung với giảm cầu trong phòng, chống ma túy, thay đổi căn bản, hiệu quả công tác cai nghiện ma túy. Nhất là sau khi Luật Phòng, chống ma túy số 73/2021/QH14 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2022, công tác phòng, chống ma túy, quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy, cai nghiện ma túy được bảo đảm chặt chẽ, hiệu lực, hiệu quả, tạo cơ sở pháp lý vững chắc trong phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm ma túy.
Tuy nhiên, quá trình tổ chức thực hiện Luật Phòng, chống ma túy trong những năm qua cũng bộc lộ một số khó khăn, vướng mắc nhất định và phát sinh những vấn đề mới cần sửa đổi, bổ sung. Đặc biệt, hiện tại thẩm quyền, nhiệm vụ quản lý nhà nước về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy đã được chuyển từ Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về Bộ Công an. Do đó, cần thiết phải sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật nhằm thể chế hóa các quan điểm chỉ đạo mới của Đảng, Nhà nước, phù hợp với sự thay đổi của cơ quan chủ trì quản lý công tác này.

Lực lượng Công an treo băng rôn tuyên truyền về phòng, chống ma túy
Trong công tác kiểm soát các hoạt động hợp pháp về ma túy. Tại khoản 4 Điều 2 quy định “Tiền chất là các hóa chất không thể thiếu được trong quá trình điều chế, sản xuất chất ma túy” là chưa phù hợp, bởi vì thực tế hiện nay các đối tượng có thể thay thế nhiều loại tiền chất khác nhau để điều chế, sản xuất chất ma túy. Đặc biệt, một số loại thức ăn chăn nuôi, thức ăn thủy sản có chứa chất ma túy, tiền chất được sử dụng phổ biến trên thế giới nhằm tăng năng suất, chất lượng chăn nuôi. Tuy nhiên, ở Việt Nam các loại thức ăn này không được nhập khẩu để sử dụng do chưa được đưa vào danh mục kiểm soát hoạt động hợp pháp liên quan đến ma túy, vì vậy ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản trong nước.
Đáng chú ý, về công tác quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy đi khỏi địa bàn, người sử dụng trái phép chất ma túy không nơi cư trú ổn định gặp khó khăn trong việc thực hiện các hoạt động xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể, tư vấn, giáo dục, động viên, quản lý phòng ngừa các hành vi vi phạm pháp luật. Trong thời gian quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy, khi có thông tin người đó sử dụng trái phép chất ma túy, Công an xã yêu cầu người đó xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể, nhưng họ không chấp hành, trong khi đó quy định của pháp luật thì không được cưỡng chế, hay có chế tài xử lý nên rất khó khăn trong thực tiễn, không có tính răn đe, giáo dục đối với người sử dụng trái phép chất ma túy, làm giảm tính nghiêm minh của pháp luật.
Tại điểm b, khoản 5 Điều 23 quy định “Đưa ra khỏi danh sách người sử dụng trái phép chất ma túy đối với người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy” là không phù hợp với thực tiễn, bởi vì bản thân họ vẫn được xác định là người sử dụng trái phép chất ma túy đang ở ngoài cộng đồng nên không đưa ra khỏi danh sách quản lý được. Việc quản lý đối với người sử dụng trái phép chất ma túy đi khỏi địa bàn, người sử dụng trái phép chất ma túy không nơi cư trú ổn định gặp khó khăn trong việc thực hiện các hoạt động xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể, tư vấn, giáo dục, động viên, quản lý phòng ngừa các hành vi vi phạm pháp luật. Trong thời gian quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy, khi có thông tin người đó sử dụng trái phép chất ma túy, Công an xã yêu cầu người đó xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể, nhưng họ không chấp hành, trong khi đó quy định của pháp luật thì không được cưỡng chế, hay có chế tài xử lý nên rất khó khăn trong thực tiễn, không có tính răn đe, giáo dục đối với người sử dụng trái phép chất ma túy, làm giảm tính nghiêm minh của pháp luật.
Việc xác định tình trạng nghiện ma túy gặp nhiều khó khăn, vướng mắc như: người nghiện không hợp tác với lực lượng chức năng khi có yêu cầu; cơ sở vật chất, nhân lực thực hiện xác định tình trạng nghiện còn thiếu, nhất là ở cấp xã, không đảm bảo cho việc thực hiện xác định tình trạng nghiện; đối với người nghiện các loại ma túy tổng hợp, biểu hiện trạng thái cai rất đa dạng và không điển hình, trong khi đó xu thế hiện nay người nghiện đang chuyển dần sang sử dụng ma túy tổng hợp. Thực tế hiện nay nếu không xác định được tình trạng nghiện ma túy thì sẽ không áp dụng được biện pháp cai nghiện đối với người nghiện, trong khi đó việc quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy là việc tư vấn, giáo dục; hành vi sử dụng trái phép chất ma túy chỉ bị xử phạt hành chính: cảnh cáo, phạt tiền từ 1.000.000đ đến 2.000.000đ là chưa đủ mức răn đe; nếu nâng cao mức xử phạt hành chính thì đa số người sử dụng trái phép chất ma túy không thực hiện được.
Về công tác cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng. Khoản 2 Điều 30 quy định “Thời hạn cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng là từ đủ 06 tháng đến 12 tháng”, thực tế rất khó xác định khi nào áp dụng thời hạn 06 tháng, trên 06 tháng hoặc 12 tháng, gây nên sự áp dụng không thống nhất giữa các địa phương, dẫn đến việc tùy nghi trong áp dụng pháp luật và hạn chế hiệu quả công tác cai nghiện. Đồng thời, tại Khoản 3 Điều 30 quy định “Người cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng khi hoàn thành ít nhất 03 giai đoạn quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều 29 của Luật này được hỗ trợ kinh phí”. Như vậy việc cai nghiện tự nguyện tại gia đình, cộng đồng không được nhà nước đảm bảo kinh phí 100% như cai nghiện bắt buộc; người nghiện phải trả phí dịch vụ, trong khi đa phần người nghiện, gia đình người nghiện rất khó khăn về kinh tế nên không thu hút họ thực hiện cai nghiện tự nguyện tại gia đình, cộng đồng. Đồng thời, tại Khoản 6 Điều 30 quy định trách nhiệm của Chủ tịch UBND cấp huyện trong việc thực hiện cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng, nhưng hiện tại đã không còn tổ chức hành chính cấp huyện, do vậy quy định này không còn phù hợp.
Ngoài ra, tại Khoản 3 Điều 43 quy định “Công an cấp xã giúp UBND cùng cấp đưa ra khỏi danh sách người nghiện ma túy, người bị quản lý sau cai”, tuy nhiên trên thực tế công tác thống kê chưa được rõ ràng, tách bạch giữa người nghiện và người bị quản lý sau cai dẫn đến việc thống kê người nghiện, người bị quản lý sau cai chưa phản ánh đúng với thực trạng tình hình. Bên cạnh đó, Luật chưa có quy định tiêu chuẩn về xây dựng Cơ sở cai nghiện ma túy; quản lý, điều hành các cơ sở cai nghiện công lập….
Chưa có sự đồng bộ, thống nhất, liên thông giữa Luật Phòng, chống ma túy với các luật khác. Cụ thể: Đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc quy định tại Luật Phòng, chống ma túy, tuy nhiên, thủ tục lập hồ sơ đề nghị, xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và thi hành quyết định đang được quy định trong Luật Xử lý vi phạm hành chính. Thời hạn áp dụng biện pháp cai nghiện cũng chưa thống nhất: Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định thời hạn áp dụng cai nghiện ma túy bắt buộc là từ đủ 12 tháng đến 24 tháng rất khó cho việc xác định khi nào áp dụng 12 tháng, trên 12 tháng hoặc 24 tháng. Tương tự, Luật Phòng, chống ma túy cũng quy định áp dụng thời hạn cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng, cơ sở cai nghiện ma túy tư nhân, cai nghiện đối với người từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi là từ đủ 06 tháng đến 12 tháng. Việc cai nghiện ma túy tại các cơ sở cai nghiện ma túy công lập do Nhà nước thành lập, quản lý rất chặt chẽ nhưng thời hạn cai nghiện lại nhiều hơn cai nghiện tại gia đình, cộng đồng, cơ sở cai nghiện ma túy tư nhân do cơ quan, tổ chức ngoài công lập…
Từ những vấn đề trên cho thấy, việc xây dựng dự án Luật Phòng, chống ma túy (sửa đổi) là cần thiết. Góp phần thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc khi chuyển giao nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của cơ quan quản lý nhà nước về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy về Bộ Công an. Qua đó, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật, đáp ứng yêu cầu công tác phòng, chống ma túy, nâng cao hiệu quả công tác cai nghiện ma túy trong tình hình mới.
Đáng chú ý, về công tác quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy đi khỏi địa bàn, người sử dụng trái phép chất ma túy không nơi cư trú ổn định gặp khó khăn trong việc thực hiện các hoạt động xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể, tư vấn, giáo dục, động viên, quản lý phòng ngừa các hành vi vi phạm pháp luật. Trong thời gian quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy, khi có thông tin người đó sử dụng trái phép chất ma túy, Công an xã yêu cầu người đó xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể, nhưng họ không chấp hành, trong khi đó quy định của pháp luật thì không được cưỡng chế, hay có chế tài xử lý nên rất khó khăn trong thực tiễn, không có tính răn đe, giáo dục đối với người sử dụng trái phép chất ma túy, làm giảm tính nghiêm minh của pháp luật.
Tại điểm b, khoản 5 Điều 23 quy định “Đưa ra khỏi danh sách người sử dụng trái phép chất ma túy đối với người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy” là không phù hợp với thực tiễn, bởi vì bản thân họ vẫn được xác định là người sử dụng trái phép chất ma túy đang ở ngoài cộng đồng nên không đưa ra khỏi danh sách quản lý được. Việc quản lý đối với người sử dụng trái phép chất ma túy đi khỏi địa bàn, người sử dụng trái phép chất ma túy không nơi cư trú ổn định gặp khó khăn trong việc thực hiện các hoạt động xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể, tư vấn, giáo dục, động viên, quản lý phòng ngừa các hành vi vi phạm pháp luật. Trong thời gian quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy, khi có thông tin người đó sử dụng trái phép chất ma túy, Công an xã yêu cầu người đó xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể, nhưng họ không chấp hành, trong khi đó quy định của pháp luật thì không được cưỡng chế, hay có chế tài xử lý nên rất khó khăn trong thực tiễn, không có tính răn đe, giáo dục đối với người sử dụng trái phép chất ma túy, làm giảm tính nghiêm minh của pháp luật.
Việc xác định tình trạng nghiện ma túy gặp nhiều khó khăn, vướng mắc như: người nghiện không hợp tác với lực lượng chức năng khi có yêu cầu; cơ sở vật chất, nhân lực thực hiện xác định tình trạng nghiện còn thiếu, nhất là ở cấp xã, không đảm bảo cho việc thực hiện xác định tình trạng nghiện; đối với người nghiện các loại ma túy tổng hợp, biểu hiện trạng thái cai rất đa dạng và không điển hình, trong khi đó xu thế hiện nay người nghiện đang chuyển dần sang sử dụng ma túy tổng hợp. Thực tế hiện nay nếu không xác định được tình trạng nghiện ma túy thì sẽ không áp dụng được biện pháp cai nghiện đối với người nghiện, trong khi đó việc quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy là việc tư vấn, giáo dục; hành vi sử dụng trái phép chất ma túy chỉ bị xử phạt hành chính: cảnh cáo, phạt tiền từ 1.000.000đ đến 2.000.000đ là chưa đủ mức răn đe; nếu nâng cao mức xử phạt hành chính thì đa số người sử dụng trái phép chất ma túy không thực hiện được.
Về công tác cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng. Khoản 2 Điều 30 quy định “Thời hạn cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng là từ đủ 06 tháng đến 12 tháng”, thực tế rất khó xác định khi nào áp dụng thời hạn 06 tháng, trên 06 tháng hoặc 12 tháng, gây nên sự áp dụng không thống nhất giữa các địa phương, dẫn đến việc tùy nghi trong áp dụng pháp luật và hạn chế hiệu quả công tác cai nghiện. Đồng thời, tại Khoản 3 Điều 30 quy định “Người cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng khi hoàn thành ít nhất 03 giai đoạn quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều 29 của Luật này được hỗ trợ kinh phí”. Như vậy việc cai nghiện tự nguyện tại gia đình, cộng đồng không được nhà nước đảm bảo kinh phí 100% như cai nghiện bắt buộc; người nghiện phải trả phí dịch vụ, trong khi đa phần người nghiện, gia đình người nghiện rất khó khăn về kinh tế nên không thu hút họ thực hiện cai nghiện tự nguyện tại gia đình, cộng đồng. Đồng thời, tại Khoản 6 Điều 30 quy định trách nhiệm của Chủ tịch UBND cấp huyện trong việc thực hiện cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng, nhưng hiện tại đã không còn tổ chức hành chính cấp huyện, do vậy quy định này không còn phù hợp.
Ngoài ra, tại Khoản 3 Điều 43 quy định “Công an cấp xã giúp UBND cùng cấp đưa ra khỏi danh sách người nghiện ma túy, người bị quản lý sau cai”, tuy nhiên trên thực tế công tác thống kê chưa được rõ ràng, tách bạch giữa người nghiện và người bị quản lý sau cai dẫn đến việc thống kê người nghiện, người bị quản lý sau cai chưa phản ánh đúng với thực trạng tình hình. Bên cạnh đó, Luật chưa có quy định tiêu chuẩn về xây dựng Cơ sở cai nghiện ma túy; quản lý, điều hành các cơ sở cai nghiện công lập….
Chưa có sự đồng bộ, thống nhất, liên thông giữa Luật Phòng, chống ma túy với các luật khác. Cụ thể: Đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc quy định tại Luật Phòng, chống ma túy, tuy nhiên, thủ tục lập hồ sơ đề nghị, xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và thi hành quyết định đang được quy định trong Luật Xử lý vi phạm hành chính. Thời hạn áp dụng biện pháp cai nghiện cũng chưa thống nhất: Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định thời hạn áp dụng cai nghiện ma túy bắt buộc là từ đủ 12 tháng đến 24 tháng rất khó cho việc xác định khi nào áp dụng 12 tháng, trên 12 tháng hoặc 24 tháng. Tương tự, Luật Phòng, chống ma túy cũng quy định áp dụng thời hạn cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng, cơ sở cai nghiện ma túy tư nhân, cai nghiện đối với người từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi là từ đủ 06 tháng đến 12 tháng. Việc cai nghiện ma túy tại các cơ sở cai nghiện ma túy công lập do Nhà nước thành lập, quản lý rất chặt chẽ nhưng thời hạn cai nghiện lại nhiều hơn cai nghiện tại gia đình, cộng đồng, cơ sở cai nghiện ma túy tư nhân do cơ quan, tổ chức ngoài công lập…
Từ những vấn đề trên cho thấy, việc xây dựng dự án Luật Phòng, chống ma túy (sửa đổi) là cần thiết. Góp phần thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc khi chuyển giao nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của cơ quan quản lý nhà nước về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy về Bộ Công an. Qua đó, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật, đáp ứng yêu cầu công tác phòng, chống ma túy, nâng cao hiệu quả công tác cai nghiện ma túy trong tình hình mới.
Phương Thảo
Các tin khác
-
-
-

Đang online: 1 Hôm nay: 4504 Trong tuần: 91 Trong tháng 63245 Tất cả: 28616494



.jpg)






