.jpg)
Ảnh minh họa
Về mức đóng BHYT hằng tháng được xác định theo tỉ lệ phần trăm của tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội hoặc mức tham chiếu theo quy định của Luật BHYT. Cụ thế:
- Đối với đối tượng quy định tại điểm a, điểm b khoản 1 Điều 2 Thông tư này (gồm: a) Công nhân Công an; b) Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn; hợp đồng lao động xác định thời hạn từ đủ 01 tháng trở lên; công dân đang trong thời gian tạm tuyển trước khi được tuyển dụng chính thức vào CAND) được thực hiện như sau:
+ Bằng 4,5% của tiền lương tháng, trong đó Công an đơn vị, địa phương đóng 03%, người lao động đóng 1,5%. Đối với người lao động hưởng lương ngân sách nhà nước thì số tiền đóng BHYT thuộc trách nhiệm đóng của Công an đơn vị, địa phương (người sử dụng lao động) do ngân sách nhà nước đảm bảo. Đối với người lao động không hưởng lương ngân sách nhà nước thì số tiền đóng BHYT thuộc trách nhiệm đóng của Công an đơn vị, địa phương được hạch toán vào chi phí của doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật;
+ Trường hợp người lao động có thêm một hoặc nhiều hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng trở lên thì tiền lương tháng đóng BHYT thực hiện theo hợp đồng lao động làm căn cứ tham gia bảo hiếm xã hội bắt buộc;
+ Trong thời gian đối tượng quy định tại điểm a, điểm b khoản 1 Điều 2 Thông tư này nghỉ việc hưởng trợ cấp ốm đau do mắc bệnh thuộc danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày hoặc nghỉ việc hưởng chế độ ốm đau từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng hoặc nghỉ việc hưởng chế độ thai sản từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, mức đóng BHYT hằng tháng bằng 4,5% mức tham chiếu. Công an đơn vị, địa phương có trách nhiệm lập danh sách người tham gia BHYT quy định tại điểm này gửi cơ quan bảo hiểm xã hội nơi cấp thẻ BHYT để thực hiện ghi thu và quyết toán với Bảo hiểm xã hội Việt Nam;
+ Trong thời gian bị tạm giữ, tạm giam, tạm đình chỉ công tác hoặc tạm đình chỉ chức vụ mà chưa bị xử lý kỷ luật thì thực hiện đóng BHYT theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 6 Nghị định số 188/2025/NĐ-CP.
- Mức đóng BHYT hằng tháng của đối tượng quy định tại điểm c khoản 1 Điều 2 Thông tư này (gồm: Thân nhân của sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ và sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật đang công tác trong lực lượng CAND; thân nhân của hạ sĩ quan, chiến sĩ nghĩa vụ đang phục vụ có thời hạn trong CAND; thân nhân của học viên Công an hưởng sinh hoạt phí là người Việt Nam đang học tại các trường trong và ngoài CAND và thân nhân của công nhân Công an quy định tại điểm a Khoản này mà không thuộc đối tượng tham gia BHYT quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, e, g và h khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều 12 Luật BHYT) bằng 4,5% mức tham chiếu. Ngân sách nhà nước đảm bảo đóng BHYT đối với thân nhân của cán bộ, chiến sĩ và thân nhân của công nhân Công an hưởng lương ngân sách nhà nước; kinh phí đóng BHYT đối với thân nhân của công nhân Công an không hưởng lương ngân sách nhà nước do Công an đơn vị, địa phương đóng và được hạch toán vào chi phí của doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.
- Mức đóng BHYT hàng tháng của đối tượng quy định tại điểm d khoản 1 Điều 2 Thông tư này (gồm: Học sinh đang học tại Trường Văn hóa CAND, bao gồm cả học sinh là người nước ngoài) bằng 4,5% mức tham chiếu do Công an đơn vị, địa phương đóng từ nguồn sau:
+ Đối với học sinh có quốc tịch Lào, Campuchia sử dụng nguồn kinh phí đào tạo theo quy định tại Điều 4 Thông tư số 75/2023/TT-BTC ngày 28/12/2023 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn quản lý kinh phí đào tạo cho lưu học sinh Lào, Campuchia (diện Hiệp định) học tập tại Việt Nam sử dụng nguồn vốn viện trợ của Chính phủ Việt Nam;
+ Đối với học sinh là người Việt Nam do ngân sách nhà nước đảm bảo.
- Mức đóng bảo hiểm y tế hằng tháng của đối tượng quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 2 Thông tư này (gồm: Học sinh, sinh viên hệ dân sự đang học tại các trường CAND, trừ đối tượng quy định tại điểm d Khoản này) bằng 4,5% mức tham chiếu, trong đó ngân sách nhà nước hỗ trợ tối thiểu bằng 50% mức đóng BHYT, phần còn lại do cá nhân tự đóng. Khi Nhà nước điều chỉnh mức đóng BHYT, điều chỉnh mức tham chiếu thì người tham gia BHYT và ngân sách nhà nước không phải đóng bổ sung hoặc không được hoàn trả phần chênh lệch do điều chỉnh mức đóng BHYT, mức tham chiếu đối với thời gian còn lại mà người tham gia đã đóng BHYT.
Đối với phương thức đóng BHYT, Thông tư số 86 cũng quy định rõ như sau:
- Hằng tháng, cùng thời điểm trả lương, Công an đơn vị, địa phương thực hiện trích đóng và đóng BHYT cho đối tượng quy định tại điểm a, b và thân nhân của công nhân Công an quy định tại điểm c khoản 1 Điều 2 Thông tư này nộp cho cơ quan bảo hiểm xã hội nơi cấp thẻ BHYT, chậm nhất vào ngày cuối cùng của tháng phải chuyển đủ số tiền đóng BHYT của tháng đó.
- Trong 15 ngày đầu mỗi quý, Công an đơn vị, địa phương thực hiện chuyển kinh phí đóng BHYT trong quý của đối tượng quy định tại điểm c, điểm d khoản 1 Điều 2 Thông tư này (trừ đối tượng là thân nhân của công nhân Công an) cho cơ quan bảo hiểm xã hội nơi cấp thẻ BHYT. Chậm nhất ngày 31 tháng 12 phải thực hiện xong việc chuyển kinh phí đóng BHYT của năm đó.
- Định kỳ 03 tháng hoặc 06 tháng hoặc 12 tháng một lần, Công an đơn vị, địa phương thực hiện thu tiền đóng BHYT phần thuộc trách nhiệm đóng của đối tượng quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 2 Thông tư này nộp cho cơ quan bảo hiểm xã hội nơi cấp thẻ BHYT…
Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 13/10/2025, thay thế Thông tư số 57/2019/TT-BCA ngày 11/11/2019 của Bộ trưởng Bộ Công an hướng dẫn thực hiện BHYT đối với người lao động, học sinh, sinh viên và thân nhân của cán bộ, chiến sĩ, công nhân Công an đang phục vụ, công tác trong CAND./.
Phương Thảo