Một số quy định về dẫn độ theo dự án Luật Dẫn độ
Cập nhật ngày: 17-11-2025
Dự án Luật Dẫn độ do Bộ Công an chủ trì soạn thảo trình Quốc hội khóa XV trên cơ sở kế thừa có chọn lọc các chính sách còn phù hợp của Luật Tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dẫn độ. Thông qua việc xây dựng Luật Dẫn độ nhằm hoàn thiện pháp luật về dẫn độ theo hướng đồng bộ, hiện đại, bảo đảm chặt chẽ, khả thi, phù hợp với pháp luật và thông lệ quốc tế; thúc đẩy hợp tác quốc tế về dẫn độ, nâng cao hiệu quả truy bắt các đối tượng thực hiện hành vi phạm tội bỏ trốn ra nước ngoài; bảo vệ sự tôn nghiêm của pháp luật, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân cũng như góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả và bảo đảm mục tiêu quản lý nhà nước trong lĩnh vực dẫn độ; tạo nền tảng cho việc ký kết và thực hiện các điều ước quốc tế về dẫn độ.
Theo đó, dự án Luật Dẫn độ gồm 04 chương, 45 điều, trong đó, sửa đổi 27 điều, bổ sung 23 điều và cắt giảm 01 điều so với Luật Tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dẫn độ. Đồng thời, bổ sung thêm một số nội dung cơ bản: Trường hợp yêu cầu dẫn độ liên quan đến nhiều hành vi phạm tội; không truy cứu trách nhiệm hình sự, không thi hành án đối với người bị dẫn độ ngoài tội phạm được nêu trong yêu cầu dẫn độ; không dẫn độ cho nước thứ ba; quy định về Cơ quan Trung ương về dẫn độ và chức năng, nhiệm vụ của Cơ quan Trung ương trong hoạt động dẫn độ; hồ sơ yêu cầu dẫn độ của Việt Nam gửi đi nước ngoài, bổ sung thêm một số nội dung phù hợp với các điều ước quốc tế về dẫn độ mà Việt Nam là thành viên; trường hợp nước yêu cầu chưa ký kết điều ước quốc tế về dẫn dẫn độ với Việt Nam thì trình tự, thủ tục bắt khẩn cấp để dẫn độ được thực hiện theo quy định của Bộ Luật Tố tụng hình sự….
Theo đó, dự án Luật Dẫn độ gồm 04 chương, 45 điều, trong đó, sửa đổi 27 điều, bổ sung 23 điều và cắt giảm 01 điều so với Luật Tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dẫn độ. Đồng thời, bổ sung thêm một số nội dung cơ bản: Trường hợp yêu cầu dẫn độ liên quan đến nhiều hành vi phạm tội; không truy cứu trách nhiệm hình sự, không thi hành án đối với người bị dẫn độ ngoài tội phạm được nêu trong yêu cầu dẫn độ; không dẫn độ cho nước thứ ba; quy định về Cơ quan Trung ương về dẫn độ và chức năng, nhiệm vụ của Cơ quan Trung ương trong hoạt động dẫn độ; hồ sơ yêu cầu dẫn độ của Việt Nam gửi đi nước ngoài, bổ sung thêm một số nội dung phù hợp với các điều ước quốc tế về dẫn độ mà Việt Nam là thành viên; trường hợp nước yêu cầu chưa ký kết điều ước quốc tế về dẫn dẫn độ với Việt Nam thì trình tự, thủ tục bắt khẩn cấp để dẫn độ được thực hiện theo quy định của Bộ Luật Tố tụng hình sự….

Ảnh minh họa
Một số nội dung cơ bản của dẫn độ từ nước ngoài về Việt Nam
Về cơ quan của Việt Nam lập yêu cầu dẫn độ: Dự thảo Luật quy định cơ quan Trung ương về dẫn độ, cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan quản lý thi hành án hình sự, cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền lập yêu cầu dẫn độ để truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc để thi hành án. Đây là quy định được kế thừa, đồng thời được bổ sung so với Luật Tương trợ tư pháp. Việc quy định theo hướng này là phù hợp với việc bổ sung quy định về cơ quan có thẩm quyền lập yêu cầu dẫn độ.
Về hồ sơ yêu cầu dẫn độ của Việt Nam gửi đi nước ngoài: nội dung hồ sơ yêu cầu dẫn độ cơ bản kế thừa các quy định của Điều 37 Luật Tương trợ tư pháp 2007 và bổ sung một số nội dung để phù hợp với tình hình mới, phù hợp với các điều ước quốc tế về dẫn độ mà Việt Nam là thành viên. Dự thảo Luật cũng quy định chi tiết về các tài liệu kèm theo văn bản yêu cầu dẫn độ trong trường hợp dẫn độ để truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành án hình sự.
Về tiếp nhận, kiểm tra, chuyển hồ sơ yêu cầu dẫn độ và bổ sung thông tin, tài liệu: Cơ quan lập yêu cầu dẫn độ có trách nhiệm gửi hồ sơ yêu cầu dẫn độ đến Bộ Công an để kiểm tra, trừ trường hợp cơ quan lập yêu cầu dẫn độ là Cơ quan Trung ương về dẫn độ. Bộ Công an kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ yêu cầu dẫn độ trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ yêu cầu dẫn độ. Trường hợp hồ sơ hợp lệ thì Bộ Công an chuyển hồ sơ yêu cầu dẫn độ cho nước ngoài. Trường hợp nước ngoài đề nghị bổ sung thông tin, tài liệu trong hồ sơ yêu cầu dẫn độ, Cơ quan lập yêu cầu dẫn độ bổ sung thông tin, tài liệu để trả lời nước ngoài.
Về tiếp nhận, áp giải người bị dẫn độ từ nước ngoài về Việt Nam: Sau khi nhận được quyết định dẫn độ của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài, Bộ Công an thành lập đoàn tiếp nhận, áp giải người bị dẫn độ từ nước ngoài về Việt Nam. Bộ trưởng Bộ Công an hướng dẫn chi tiết Điều này.
Về việc dẫn độ từ Việt Nam ra nước ngoài, dự thảo Luật Dẫn độ cũng quy định cụ thể như sau:
Hồ sơ yêu cầu dẫn độ của nước ngoài gửi đến Việt Nam: Hồ sơ yêu cầu dẫn độ của nước ngoài gửi đến Việt Nam phải đáp ứng điều kiện tương tự như hồ sơ yêu cầu dẫn độ của Việt Nam gửi đi nước ngoài.
Về tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ yêu cầu dẫn độ của nước ngoài gửi đến Việt Nam và xác minh địa điểm của người bị yêu cầu dẫn độ: Về cơ bản quy định này được kế thừa từ Luật Tương trợ tư pháp, đồng thời bổ sung quy định về Cơ quan Công an có thẩm quyền tiến hành xác minh địa điểm của người bị yêu cầu dẫn độ tại Việt Nam. Việc xác minh địa điểm của người bị yêu cầu dẫn độ tại Việt Nam đã được quy định cụ thể trong Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Công an nhân dân và các luật khác có liên quan, do đó, trong Luật này không quy định lại.
Về thụ lý hồ sơ yêu cầu dẫn độ của nước ngoài gửi đến Việt Nam: Quy định này được kế thừa từ Luật Tương trợ tư pháp, đồng thời bổ sung nội dung “Trên cơ sở ý kiến của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp, Bộ Công an có thể đề nghị Tòa án nhân dân có thẩm quyền hủy quyết định thụ lý hồ sơ yêu cầu dẫn độ”.
Về quyết định dẫn độ cho nước ngoài: Trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày thụ lý hồ sơ yêu cầu dẫn độ, Tòa án nhân dân cấp tỉnh ra một trong các quyết định sau đây: a) Quyết định xem xét yêu cầu dẫn độ; b) Quyết định đình chỉ việc xem xét yêu cầu dẫn độ. Tòa án nhân dân cấp tỉnh mở phiên họp xem xét yêu cầu dẫn độ trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày ra quyết định xem xét yêu cầu dẫn độ. Thời hạn ra quyết định xem xét yêu cầu dẫn độ đã được rút ngắn hơn so với Luật Tương trợ tư pháp, phù hợp chính sách đã được thông qua trong Báo cáo Đánh giá tác động của chính sách.
Về kháng cáo, kháng nghị quyết định dẫn độ hoặc quyết định từ chối dẫn độ: Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ dẫn độ và kháng cáo, kháng nghị, Tòa án nhân dân cấp cao mở phiên họp xem xét, quyết định của Tòa án nhân dân cấp tỉnh bị kháng cáo, kháng nghị. Quy định này liên quan đến việc xác định thẩm quyền, trách nhiệm của Tòa án nhân dân cấp cao trong việc phúc thẩm quyết định dẫn độ.
Xem xét yêu cầu dẫn độ của nhiều nước đối với một người: Về cơ bản quy định này được kế thừa từ Luật Tương trợ tư pháp, đồng thời bổ sung quy định “Trường hợp yêu cầu dẫn độ của nhiều nước đối với một người mà yêu cầu dẫn độ sau được gửi đến khi Tòa án nhân dân có thẩm quyền đã thụ lý yêu cầu dẫn độ trước thì Bộ Công an đề nghị Tòa án nhân dân có thẩm quyền đó hủy quyết định đã thụ lý theo trình tự, thủ tục quy định tại khoản 3 Điều 26 Luật này và trả lại hồ sơ yêu cầu dẫn độ đã thụ lý cho Bộ Công an để tiếp tục xem xét, quyết định”. Quy định này được bổ sung sẽ giải quyết được nhiều tình huống khác phát sinh trên thực tế, vì nhiều lý do khác nhau, cần thiết phải hủy quyết định thụ lý.
Về các biện pháp ngăn chặn để dẫn độ: Dự thảo Luật Dẫn độ quy định để đảm bảo thực hiện yêu cầu dẫn độ, cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam áp dụng các biện pháp ngăn chặn theo quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Việc áp dụng biện pháp ngăn chặn được thực hiện khi nước ngoài chuyển hồ sơ yêu cầu dẫn độ chính thức đến Việt Nam, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 31 của Luật này. Đây là quy định được kế thừa từ Điều 502 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ: Dự thảo Luật quy định trường hợp nước ngoài yêu cầu Việt Nam bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ theo quy định tại các điều ước quốc tế mà Việt Nam và nước đó là thành viên thì thực hiện theo quy định tại Điều 113 Bộ luật Tố tụng hình sự, nếu nước yêu cầu cung cấp đủ thông tin và cam kết thực hiện đầy đủ các nội dung cam kết. Văn bản yêu cầu bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ sẽ gồm các nội dung chính như: a) Lý do và mục đích của yêu cầu; b) Thông tin về nhân thân, nơi cư trú của người bị yêu cầu; c) Thông tin về tội danh bị nêu trong yêu cầu và khung hình phạt áp dụng đối với người bị yêu cầu hoặc thời gian còn lại người bị yêu cầu phải thi hành án; d) Tóm tắt nội dung vụ án là căn cứ đưa ra yêu cầu; đ) Cam kết gửi yêu cầu dẫn độ chính thức sau đó; e) Cam kết bồi thường thiệt hại trong trường hợp có oan, sai đối với người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ.
Ngoài ra, dự thảo Luật cũng bổ sung quy định “Trường hợp nước ngoài chưa ký kết điều ước quốc tế về dẫn độ với Việt Nam yêu cầu Việt Nam bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ thì trình tự, thủ tục bắt khẩn cấp để dẫn độ được thực hiện theo quy định pháp luật Việt Nam”. Đây là quy định mới được bổ sung so với Luật Tương trợ tư pháp. Quy định này được xây dựng góp phần thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của Việt Nam trong các điều ước quốc tế về dẫn độ mà Việt Nam là thành viên, dự phòng cho việc sửa đổi, bổ sung các quy định có liên quan trong Bộ luật Tố tụng hình sự trong thời gian sắp tới; phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 6 Luật Điều ước quốc tế năm 2016, phù hợp với chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm về tư duy mới về xây dựng pháp luật, đồng thời nhằm tránh bỏ lọt tội phạm.
Về dẫn độ đơn giản: Dự thảo Luật quy định trường hợp người bị yêu cầu dẫn độ đồng ý bằng văn bản với việc bị dẫn độ về nước ngoài thì Tòa án nhân dân có thẩm quyền phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp xem xét áp dụng thủ tục dẫn độ đơn giản. Trình tự, thủ tục áp dụng thủ tục dẫn độ đơn giản được thực hiện như sau: a) Tòa án nhân dân thụ lý hồ sơ yêu cầu dẫn độ; b) Tòa án nhân dân phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân và cơ quan có thẩm quyền xác minh sự đồng ý bị dẫn độ; c) Tòa án nhân dân phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân mở phiên họp xem xét yêu cầu dẫn độ. Đây là quy định mới được bổ sung so với Luật Tương trợ tư pháp.
Về thi hành quyết định dẫn độ: Dự thảo Luật quy định trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày quyết định dẫn độ của Tòa án nhân dân có thẩm quyền có hiệu lực pháp luật, Chánh án Tòa án nhân dân có thẩm quyền ra quyết định thi hành quyết định dẫn độ. Sau khi nhận được quyết định thi hành quyết định dẫn độ, cơ quan công an có thẩm quyền tiến hành bắt người bị dẫn độ theo quy định tại Điều 113 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về hoãn dẫn độ và tiếp tục thi hành quyết định dẫn độ: Về cơ bản quy định này được kế thừa từ Luật Tương trợ tư pháp, phù hợp với pháp luật và thông lệ quốc tế về dẫn độ, phù hợp với các hiệp định về dẫn độ mà Việt Nam đã ký với các nước.
Về dẫn độ tạm thời: Quy định này được kế thừa từ Luật TTTP, phù hợp với pháp luật và thông lệ quốc tế về dẫn độ, phù hợp với các hiệp định về dẫn độ mà Việt Nam đã ký với các nước.
Về từ chối dẫn độ cho nước ngoài: Quy định này được kế thừa từ Luật Tương trợ tư pháp, đồng thời bổ sung một số trường hợp bắt buộc từ chối dẫn độ như: (i) Người bị yêu cầu dẫn độ có khả năng bị truy bức, tra tấn ở nước yêu cầu dẫn độ do có sự phân biệt về chủng tộc, tôn giáo, giới tính, quốc tịch, dân tộc, thành phần xã hội hoặc quan điểm chính trị hoặc vì lý do khác; (ii) Hành vi mà người bị yêu cầu dẫn độ không phải là tội phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự; bổ sung trường hợp có thể từ chối dẫn độ, bao gồm tội phạm bị yêu cầu dẫn độ là tội phạm liên quan đến chính trị, quân sự.
Về xử lý trường hợp Việt Nam từ chối dẫn độ công dân Việt Nam cho nước ngoài: Quy định này được kế thừa từ Điều 498 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về xử lý trường hợp Việt Nam từ chối dẫn độ cho nước ngoài trong các trường hợp khác: Dự thảo Luật quy định “Trường hợp Việt Nam từ chối dẫn độ cho nước ngoài những người không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này, trên cơ sở đề nghị của nước ngoài, Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thể xem xét áp dụng thủ tục được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này”. Việc bổ sung quy định này bảo đảm tránh bỏ lọt tội phạm, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân./.
Về cơ quan của Việt Nam lập yêu cầu dẫn độ: Dự thảo Luật quy định cơ quan Trung ương về dẫn độ, cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan quản lý thi hành án hình sự, cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền lập yêu cầu dẫn độ để truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc để thi hành án. Đây là quy định được kế thừa, đồng thời được bổ sung so với Luật Tương trợ tư pháp. Việc quy định theo hướng này là phù hợp với việc bổ sung quy định về cơ quan có thẩm quyền lập yêu cầu dẫn độ.
Về hồ sơ yêu cầu dẫn độ của Việt Nam gửi đi nước ngoài: nội dung hồ sơ yêu cầu dẫn độ cơ bản kế thừa các quy định của Điều 37 Luật Tương trợ tư pháp 2007 và bổ sung một số nội dung để phù hợp với tình hình mới, phù hợp với các điều ước quốc tế về dẫn độ mà Việt Nam là thành viên. Dự thảo Luật cũng quy định chi tiết về các tài liệu kèm theo văn bản yêu cầu dẫn độ trong trường hợp dẫn độ để truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành án hình sự.
Về tiếp nhận, kiểm tra, chuyển hồ sơ yêu cầu dẫn độ và bổ sung thông tin, tài liệu: Cơ quan lập yêu cầu dẫn độ có trách nhiệm gửi hồ sơ yêu cầu dẫn độ đến Bộ Công an để kiểm tra, trừ trường hợp cơ quan lập yêu cầu dẫn độ là Cơ quan Trung ương về dẫn độ. Bộ Công an kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ yêu cầu dẫn độ trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ yêu cầu dẫn độ. Trường hợp hồ sơ hợp lệ thì Bộ Công an chuyển hồ sơ yêu cầu dẫn độ cho nước ngoài. Trường hợp nước ngoài đề nghị bổ sung thông tin, tài liệu trong hồ sơ yêu cầu dẫn độ, Cơ quan lập yêu cầu dẫn độ bổ sung thông tin, tài liệu để trả lời nước ngoài.
Về tiếp nhận, áp giải người bị dẫn độ từ nước ngoài về Việt Nam: Sau khi nhận được quyết định dẫn độ của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài, Bộ Công an thành lập đoàn tiếp nhận, áp giải người bị dẫn độ từ nước ngoài về Việt Nam. Bộ trưởng Bộ Công an hướng dẫn chi tiết Điều này.
Về việc dẫn độ từ Việt Nam ra nước ngoài, dự thảo Luật Dẫn độ cũng quy định cụ thể như sau:
Hồ sơ yêu cầu dẫn độ của nước ngoài gửi đến Việt Nam: Hồ sơ yêu cầu dẫn độ của nước ngoài gửi đến Việt Nam phải đáp ứng điều kiện tương tự như hồ sơ yêu cầu dẫn độ của Việt Nam gửi đi nước ngoài.
Về tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ yêu cầu dẫn độ của nước ngoài gửi đến Việt Nam và xác minh địa điểm của người bị yêu cầu dẫn độ: Về cơ bản quy định này được kế thừa từ Luật Tương trợ tư pháp, đồng thời bổ sung quy định về Cơ quan Công an có thẩm quyền tiến hành xác minh địa điểm của người bị yêu cầu dẫn độ tại Việt Nam. Việc xác minh địa điểm của người bị yêu cầu dẫn độ tại Việt Nam đã được quy định cụ thể trong Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Công an nhân dân và các luật khác có liên quan, do đó, trong Luật này không quy định lại.
Về thụ lý hồ sơ yêu cầu dẫn độ của nước ngoài gửi đến Việt Nam: Quy định này được kế thừa từ Luật Tương trợ tư pháp, đồng thời bổ sung nội dung “Trên cơ sở ý kiến của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp, Bộ Công an có thể đề nghị Tòa án nhân dân có thẩm quyền hủy quyết định thụ lý hồ sơ yêu cầu dẫn độ”.
Về quyết định dẫn độ cho nước ngoài: Trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày thụ lý hồ sơ yêu cầu dẫn độ, Tòa án nhân dân cấp tỉnh ra một trong các quyết định sau đây: a) Quyết định xem xét yêu cầu dẫn độ; b) Quyết định đình chỉ việc xem xét yêu cầu dẫn độ. Tòa án nhân dân cấp tỉnh mở phiên họp xem xét yêu cầu dẫn độ trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày ra quyết định xem xét yêu cầu dẫn độ. Thời hạn ra quyết định xem xét yêu cầu dẫn độ đã được rút ngắn hơn so với Luật Tương trợ tư pháp, phù hợp chính sách đã được thông qua trong Báo cáo Đánh giá tác động của chính sách.
Về kháng cáo, kháng nghị quyết định dẫn độ hoặc quyết định từ chối dẫn độ: Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ dẫn độ và kháng cáo, kháng nghị, Tòa án nhân dân cấp cao mở phiên họp xem xét, quyết định của Tòa án nhân dân cấp tỉnh bị kháng cáo, kháng nghị. Quy định này liên quan đến việc xác định thẩm quyền, trách nhiệm của Tòa án nhân dân cấp cao trong việc phúc thẩm quyết định dẫn độ.
Xem xét yêu cầu dẫn độ của nhiều nước đối với một người: Về cơ bản quy định này được kế thừa từ Luật Tương trợ tư pháp, đồng thời bổ sung quy định “Trường hợp yêu cầu dẫn độ của nhiều nước đối với một người mà yêu cầu dẫn độ sau được gửi đến khi Tòa án nhân dân có thẩm quyền đã thụ lý yêu cầu dẫn độ trước thì Bộ Công an đề nghị Tòa án nhân dân có thẩm quyền đó hủy quyết định đã thụ lý theo trình tự, thủ tục quy định tại khoản 3 Điều 26 Luật này và trả lại hồ sơ yêu cầu dẫn độ đã thụ lý cho Bộ Công an để tiếp tục xem xét, quyết định”. Quy định này được bổ sung sẽ giải quyết được nhiều tình huống khác phát sinh trên thực tế, vì nhiều lý do khác nhau, cần thiết phải hủy quyết định thụ lý.
Về các biện pháp ngăn chặn để dẫn độ: Dự thảo Luật Dẫn độ quy định để đảm bảo thực hiện yêu cầu dẫn độ, cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam áp dụng các biện pháp ngăn chặn theo quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Việc áp dụng biện pháp ngăn chặn được thực hiện khi nước ngoài chuyển hồ sơ yêu cầu dẫn độ chính thức đến Việt Nam, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 31 của Luật này. Đây là quy định được kế thừa từ Điều 502 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ: Dự thảo Luật quy định trường hợp nước ngoài yêu cầu Việt Nam bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ theo quy định tại các điều ước quốc tế mà Việt Nam và nước đó là thành viên thì thực hiện theo quy định tại Điều 113 Bộ luật Tố tụng hình sự, nếu nước yêu cầu cung cấp đủ thông tin và cam kết thực hiện đầy đủ các nội dung cam kết. Văn bản yêu cầu bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ sẽ gồm các nội dung chính như: a) Lý do và mục đích của yêu cầu; b) Thông tin về nhân thân, nơi cư trú của người bị yêu cầu; c) Thông tin về tội danh bị nêu trong yêu cầu và khung hình phạt áp dụng đối với người bị yêu cầu hoặc thời gian còn lại người bị yêu cầu phải thi hành án; d) Tóm tắt nội dung vụ án là căn cứ đưa ra yêu cầu; đ) Cam kết gửi yêu cầu dẫn độ chính thức sau đó; e) Cam kết bồi thường thiệt hại trong trường hợp có oan, sai đối với người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ.
Ngoài ra, dự thảo Luật cũng bổ sung quy định “Trường hợp nước ngoài chưa ký kết điều ước quốc tế về dẫn độ với Việt Nam yêu cầu Việt Nam bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ thì trình tự, thủ tục bắt khẩn cấp để dẫn độ được thực hiện theo quy định pháp luật Việt Nam”. Đây là quy định mới được bổ sung so với Luật Tương trợ tư pháp. Quy định này được xây dựng góp phần thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của Việt Nam trong các điều ước quốc tế về dẫn độ mà Việt Nam là thành viên, dự phòng cho việc sửa đổi, bổ sung các quy định có liên quan trong Bộ luật Tố tụng hình sự trong thời gian sắp tới; phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 6 Luật Điều ước quốc tế năm 2016, phù hợp với chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm về tư duy mới về xây dựng pháp luật, đồng thời nhằm tránh bỏ lọt tội phạm.
Về dẫn độ đơn giản: Dự thảo Luật quy định trường hợp người bị yêu cầu dẫn độ đồng ý bằng văn bản với việc bị dẫn độ về nước ngoài thì Tòa án nhân dân có thẩm quyền phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp xem xét áp dụng thủ tục dẫn độ đơn giản. Trình tự, thủ tục áp dụng thủ tục dẫn độ đơn giản được thực hiện như sau: a) Tòa án nhân dân thụ lý hồ sơ yêu cầu dẫn độ; b) Tòa án nhân dân phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân và cơ quan có thẩm quyền xác minh sự đồng ý bị dẫn độ; c) Tòa án nhân dân phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân mở phiên họp xem xét yêu cầu dẫn độ. Đây là quy định mới được bổ sung so với Luật Tương trợ tư pháp.
Về thi hành quyết định dẫn độ: Dự thảo Luật quy định trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày quyết định dẫn độ của Tòa án nhân dân có thẩm quyền có hiệu lực pháp luật, Chánh án Tòa án nhân dân có thẩm quyền ra quyết định thi hành quyết định dẫn độ. Sau khi nhận được quyết định thi hành quyết định dẫn độ, cơ quan công an có thẩm quyền tiến hành bắt người bị dẫn độ theo quy định tại Điều 113 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về hoãn dẫn độ và tiếp tục thi hành quyết định dẫn độ: Về cơ bản quy định này được kế thừa từ Luật Tương trợ tư pháp, phù hợp với pháp luật và thông lệ quốc tế về dẫn độ, phù hợp với các hiệp định về dẫn độ mà Việt Nam đã ký với các nước.
Về dẫn độ tạm thời: Quy định này được kế thừa từ Luật TTTP, phù hợp với pháp luật và thông lệ quốc tế về dẫn độ, phù hợp với các hiệp định về dẫn độ mà Việt Nam đã ký với các nước.
Về từ chối dẫn độ cho nước ngoài: Quy định này được kế thừa từ Luật Tương trợ tư pháp, đồng thời bổ sung một số trường hợp bắt buộc từ chối dẫn độ như: (i) Người bị yêu cầu dẫn độ có khả năng bị truy bức, tra tấn ở nước yêu cầu dẫn độ do có sự phân biệt về chủng tộc, tôn giáo, giới tính, quốc tịch, dân tộc, thành phần xã hội hoặc quan điểm chính trị hoặc vì lý do khác; (ii) Hành vi mà người bị yêu cầu dẫn độ không phải là tội phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự; bổ sung trường hợp có thể từ chối dẫn độ, bao gồm tội phạm bị yêu cầu dẫn độ là tội phạm liên quan đến chính trị, quân sự.
Về xử lý trường hợp Việt Nam từ chối dẫn độ công dân Việt Nam cho nước ngoài: Quy định này được kế thừa từ Điều 498 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về xử lý trường hợp Việt Nam từ chối dẫn độ cho nước ngoài trong các trường hợp khác: Dự thảo Luật quy định “Trường hợp Việt Nam từ chối dẫn độ cho nước ngoài những người không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này, trên cơ sở đề nghị của nước ngoài, Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thể xem xét áp dụng thủ tục được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này”. Việc bổ sung quy định này bảo đảm tránh bỏ lọt tội phạm, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân./.
Phương Thảo
Các tin khác
-
-
-

Đang online: 1 Hôm nay: 19121 Trong tuần: 33 Trong tháng 57693 Tất cả: 28610947



.jpg)






