Một số quy định mới về thẩm tra lý lịch, xóa tên đảng viên theo Hướng dẫn số 01-HD/TW của Ban Bí thư
Cập nhật ngày: 15-06-2026
 
Ngày 19/5/2026, đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư đã ký ban hành Hướng dẫn số 01-HD/TW về một số vấn đề cụ thể thi hành Điều lệ Đảng (thay thế Hướng dẫn số 06-HD/TW, ngày 09/6/2025 của Ban Bí thư khóa XIII); trong đó, có quy định mới về thẩm tra lý lịch, xóa tên đảng viên.
 
So với Hướng dẫn số 06-HD/TW, Hướng dẫn số 01-HD/TW quy định chặt chẽ, cụ thể về thủ tục xem xét kết nạp đảng viên; đặc biệt là khâu thẩm tra lý lịch người vào Đảng, trách nhiệm của cấp ủy, chi bộ và việc kiểm soát hồ sơ trong trường hợp người vào Đảng thay đổi nơi công tác, học tập hoặc cư trú, cùng quy định về xóa tên đảng viên; cụ thể:
         
Thứ nhất, đối với thẩm tra lý lịch của người vào Đảng 
         
Về phạm vi những người cần thẩm tra lý lịch được quy định rõ hơn. Ngoài người vào Đảng, việc thẩm tra còn liên quan đến cha, mẹ đẻ; cha, mẹ vợ hoặc chồng; người trực tiếp nuôi dưỡng bản thân; vợ hoặc chồng; người trực tiếp nuôi dưỡng vợ hoặc chồng; con đẻ của người vào Đảng có năng lực hành vi dân sự đầy đủ. Quy định này đặt ra yêu cầu thẩm tra không chỉ dừng ở thông tin cá nhân người xin vào Đảng, mà còn mở rộng sang các mối quan hệ thân nhân có liên quan trực tiếp. Nội dung thẩm tra cũng được xác định cụ thể: Đối với người vào Đảng, tổ chức đảng phải làm rõ các vấn đề liên quan đến tiêu chuẩn chính trị, việc chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, phẩm chất chính trị, đạo đức và lối sống; đối với người thân, việc thẩm tra tập trung vào tiêu chuẩn chính trị và việc chấp hành đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật.
         
Về phương pháp thẩm tra, trước đây Hướng dẫn số 06-HD/TW quy định trường hợp thân nhân người vào Đảng là đảng viên và lý lịch đầy đủ thì “không phải thẩm tra, xác minh”, nhưng quy định mới tại Hướng dẫn số 01-HD/TW bổ sung thêm nội dung “phải có xác nhận của cấp ủy quản lý hồ sơ đảng viên”. Quy định này nhằm tăng tính kiểm soát, tránh tình trạng chỉ dựa vào khai báo một chiều trong hồ sơ.
         
Về trách nhiệm của chi bộ và cấp ủy nơi có người vào Đảng được nêu rõ hơn. Chi bộ, cấp ủy có trách nhiệm kiểm tra, đóng dấu giáp lai vào các trang lý lịch; gửi công văn đề nghị thẩm tra kèm lý lịch đến cấp ủy hoặc cơ quan có trách nhiệm xác minh; tổng hợp kết quả thẩm tra, ghi nội dung chứng nhận, ký tên, đóng dấu vào lý lịch của người vào Đảng. Trường hợp cần thiết, chi bộ có thể cử đảng viên đi thẩm tra và đảng viên được cử phải báo cáo bằng văn bản, chịu trách nhiệm trước Đảng về nội dung được giao.
         
Đối với cấp ủy hoặc cơ quan được yêu cầu xác nhận lý lịch, Hướng dẫn số 01-HD/TW quy định thời hạn gửi trả kết quả nếu thực hiện qua đường công văn là không quá 30 ngày làm việc ở trong nước và không quá 90 ngày làm việc ở ngoài nước, tính từ khi nhận được công văn đề nghị thẩm tra lý lịch. Đây là điểm giúp quy trình xử lý hồ sơ có mốc thời gian cụ thể hơn, hạn chế kéo dài thủ tục.
         
Việc xử lý hồ sơ khi người vào Đảng chuyển đơn vị công tác, học tập hoặc nơi cư trú. Trường hợp người vào Đảng đã được cấp ủy cơ sở hoặc chi bộ gửi nghị quyết và hồ sơ kết nạp lên cấp có thẩm quyền nhưng chưa có quyết định kết nạp, nếu người đó chuyển sang đơn vị hoặc nơi cư trú mới, trong thời hạn 15 ngày làm việc, cấp ủy có thẩm quyền kết nạp đảng viên phải gửi công văn kèm hồ sơ đến cấp ủy có thẩm quyền nơi người vào Đảng chuyển đến.
         
Sau khi tiếp nhận, cấp ủy nơi chuyển đến xem xét, nếu người vào Đảng đủ tiêu chuẩn, điều kiện thì trong thời hạn 30 ngày làm việc kể từ khi nhận được công văn và hồ sơ đề nghị kết nạp, phải ban hành quyết định kết nạp đảng viên. Nếu quá thời hạn này mà chưa ban hành quyết định, cấp ủy phải báo cáo rõ lý do với cấp ủy cấp trên trực tiếp.
         
Việc thẩm tra lý lịch của người vào Đảng trong lực lượng vũ trang được đối chiếu với lý lịch của người đó khai khi nhập ngũ hoặc khi được tuyển sinh, tuyển dụng. Với nội dung nào chưa rõ phải tiến hành thẩm tra, xác minh để làm rõ hơn.
           
Thứ hai, đối với quy định xóa tên đảng viên
       
Đối với quy trình xóa tên, đảng viên vi phạm có nghĩa vụ phải làm bản tự kiểm điểm và tiến hành kiểm điểm nghiêm túc trước chi bộ. Trong trường hợp chi ủy đã ban hành yêu cầu đôn đốc đến lần thứ 3 nhưng đảng viên đó vẫn cố tình không làm bản kiểm điểm hoặc không đến tham dự cuộc họp kiểm điểm thì chi bộ vẫn có đầy đủ thẩm quyền xem xét, xử lý đối với đảng viên đó. Nếu đảng viên cố tình không làm bản kiểm điểm theo yêu cầu của chi bộ thì chi bộ thực hiện ngay quy trình đề nghị xóa tên đảng viên. Chi bộ, đảng ủy bộ phận (nếu có), đảng ủy cơ sở, cấp có thẩm quyền xem xét xóa tên đảng viên.
         
Ngoài ra, Hướng dẫn số 01-HD/TW quy định cụ thể về việc tặng huy hiệu Đảng; theo đó, đảng viên có đủ 30, 35, 40, 45, 50, 55, 60, 65, 70, 75, 80, 85, 90 và 95 năm tuổi Đảng được xét tặng huy hiệu Đảng. Như vậy, so với Hướng dẫn 06-HD/TW, việc tặng huy hiệu Đảng được bổ sung thêm hai mốc mới là 35 năm tuổi Đảng và 95 năm tuổi Đảng.
           
Hướng dẫn số 01-HD/TW có hiệu lực từ ngày 19/5/2026, việc tuyên truyền, quán triệt, tổ chức thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các quy định trên góp phần nâng cao trách nhiệm của đảng viên, tăng cường kỷ luật, kỷ cương và hiệu quả thi hành Điều lệ Đảng; là cơ sở quan trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, thể hiện trách nhiệm, sự gương mẫu của tổ chức Đảng, đảng viên, góp phần xây dựng tổ chức Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong thời gian tới./.

Võ Hoàng Vũ