|
| Điều kiện chuyển giao người nước ngoài đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam từ 01/7/2026 |
| Cập nhật ngày: 28-07-2026 |
| Ngày 26/11/2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV đã chính thức thông qua Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù (Luật số 101/2025/QH15), có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026. |
Đây là đạo luật chuyên biệt, thay thế các quy định về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù tại Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong tình hình mới.
Điều kiện chuyển giao người nước ngoài đang chấp
hành án phạt tù tại Việt Nam từ 01/7/2026 (Ảnh minh họa)
Khoản 1 Điều 32 Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù 2025, số 101/2025/QH15, người nước ngoài đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam chỉ được chuyển giao cho nước ngoài để tiếp tục chấp hành án khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định.
Cụ thể, người đang chấp hành án phải là công dân của nước nhận, hoặc được phép cư trú không thời hạn tại nước nhận, hoặc được nước nhận đồng ý tiếp nhận. Hành vi phạm tội đã bị kết án tại Việt Nam phải đồng thời cấu thành tội phạm theo pháp luật của nước nhận tại thời điểm lập yêu cầu chuyển giao, bảo đảm nguyên tắc song trùng tội danh.
Bên cạnh đó, tại thời điểm tiếp nhận yêu cầu, người đang chấp hành án phải còn ít nhất 01 năm thời hạn chấp hành án phạt tù, trừ trường hợp đặc biệt do Chính phủ quy định.
Một điều kiện đáng chú ý là người này phải hoàn thành các nghĩa vụ dân sự, hình phạt bổ sung và trách nhiệm pháp lý khác theo bản án của Tòa án Việt Nam; trường hợp chưa hoàn thành thì chỉ được chuyển giao khi có cam kết hoặc bảo đảm thực hiện từ phía nước nhận hoặc các chủ thể có liên quan. Việc chuyển giao cũng phải có sự đồng ý của Việt Nam hoặc của nước nhận, tùy theo chủ thể lập yêu cầu.
Ngoài các điều kiện nêu trên, Điều 33 Luật số 101/2025/QH15 quy định rõ các trường hợp bắt buộc từ chối chuyển giao, trong đó lần đầu tiên bổ sung căn cứ từ chối nếu có nguy cơ người được chuyển giao bị tra tấn, trả thù, ngược đãi, phân biệt đối xử hoặc bị đối xử vô nhân đạo tại nước nhận. Quy định này thể hiện bước tiến quan trọng trong việc bảo đảm quyền con người khi thực hiện hợp tác quốc tế về thi hành án hình sự./.
Huỳnh Ngọc Bích
|