|
| Những quy định về định danh địa điểm có hiệu lực từ ngày 01/9/2026 |
| Cập nhật ngày: 20-08-2026 |
| Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP về định danh địa điểm; có hiệu lực từ ngày 01/9/2026. Nghị định gồm 04 chương, 18 điều, trong đó có một số nội dung đáng chú ý, như sau: |
- Theo khoản 1 Điều 2 Nghị định 326/2026/NĐ-CP, định danh địa điểm là hoạt động thu thập, tạo lập dữ liệu và cấp mã định danh cho một địa điểm nhằm phân biệt địa điểm này với địa điểm khác.
Đối tượng được định danh gồm thửa đất, công trình kiến trúc, công trình xây dựng, kết cấu xây dựng, địa danh, các cấu trúc vật lý và những đối tượng khác quy định tại Phụ lục kèm theo Nghị định. - Theo khoản 1 Điều 3 Nghị định 326/2026/NĐ-CP quy định mỗi địa điểm chỉ có một mã định danh duy nhất, tuân thủ cấu trúc thống nhất trên toàn quốc, bảo đảm tính liên tục, ổn định và không trùng lặp trong toàn hệ thống. Sau khi được tạo lập và gắn cho một đối tượng cụ thể, mã định danh địa điểm phải có tính ổn định lâu dài. ![]() Những thông tin được lưu trong cơ sở dữ liệu định danh địa điểm - Theo Điều 4 Nghị định 326/2026/NĐ-CP quy định “Mã định danh địa điểm là dãy số tự nhiên gồm 12 chữ số do Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm xác lập. Mỗi địa điểm được gắn một mã định danh riêng biệt, không trùng lặp, bảo đảm tính ổn định, mở rộng và khả năng liên kết, tích hợp, kết nối, chia sẻ, khai thác thông tin trong cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành”. Theo khoản 2 Điều 5 Nghị định 326/2026/NĐ-CP về Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm chứa nhiều nhóm thông tin như sau: + Mã định danh địa điểm; + Đối tượng định danh địa điểm; + Địa chỉ của địa điểm; + Lối tiếp cận; + Mã bưu chính; + Thông tin tọa độ theo hệ tọa độ quốc gia VN-2000 hoặc hệ tọa độ toàn cầu WGS-84 (tọa độ điểm đặc trưng hoặc tọa độ biên); + Các thông tin của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (nếu có); + Trạng thái hoạt động của địa điểm: đang hoạt động, sử dụng, ngừng sử dụng, chuyển địa điểm, thay đổi cấu trúc, tính chất của địa điểm; + Tên địa điểm; + Thông tin kết cấu của địa điểm (nếu có); + Thông tin địa không gian ba chiều của địa điểm (nếu có); + Cơ quan chủ quản dữ liệu địa điểm (bao gồm tên cơ quan, số định danh tổ chức); + Dấu hiệu nhận biết của địa điểm (nếu có); + Cơ quan, tổ chức, cá nhân sở hữu, sử dụng địa điểm (nếu có); + Thông tin địa chỉ các thành phần thuộc địa điểm: mã địa chỉ là chuỗi ký tự do hệ thống định danh địa điểm sinh ngẫu nhiên; thông tin mô tả địa chỉ; + Các thông tin khác của đối tượng định danh địa điểm được kết nối, chia sẻ từ cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành. - Cơ sở dữ liệu này được xây dựng tập trung, thống nhất trên phạm vi toàn quốc. Theo khoản 1 Điều 6, dữ liệu phục vụ định danh địa điểm được thu thập, tạo lập từ các cơ sở dữ liệu quốc gia và cơ sở dữ liệu chuyên ngành thuộc phạm vi quản lý của các bộ, cơ quan ngang bộ, địa phương. Ngoài ra, tại Điểm a khoản 3 Điều 6 yêu cầu cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu gốc phải thường xuyên, kịp thời cập nhật dữ liệu ngay khi có biến động và đồng bộ với Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm. Trường hợp thông tin bị sai, cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền phản ánh, kiến nghị với cơ quan nhà nước theo điểm c khoản 3 Điều này. - Theo khoản 1 Điều 7 Nghị định 326/2026/NĐ-CP quy định dữ liệu định danh địa điểm được kết nối, chia sẻ và khai thác nhằm phục vụ quản lý nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội. Việc chia sẻ, khai thác phải đúng mục đích, phạm vi và thẩm quyền. Do đó, cơ quan giải quyết thủ tục hành chính không được yêu cầu cung cấp thành phần hồ sơ nếu các thông tin trong thành phần hồ sơ đó đã có dữ liệu trong Cơ sở dữ liệu định danh địa điểm. Việc Chính phủ ban hành Nghị định 326/2026/NĐ-CP ngày 19/8/2026 về định danh địa điểm có hiệu lực từ ngày 01/9/2026; Đây là giai đoạn chuyển mình của đất nước bước vào “Kỷ nguyên số”, là minh chứng cho việc cụ thể hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; góp phần thúc đẩy xây dựng nền hành chính dân chủ, chuyên nghiệp, hiện đại, tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; thúc đẩy chuyển đổi số, phát triển mô hình chính quyền điện tử, chính quyền số và phục vụ mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững của đất nước./. Huỳnh Kiểm |