Nghị định 329/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định về lực lượng bảo vệ an ninh mạng, có hiệu lực từ ngày 19/8/2026
Cập nhật ngày: 23-08-2026
 
Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định 329/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định về lực lượng bảo vệ an ninh mạng; gồm 04 chương, 21 điều, có hiệu lực từ ngày 19/8/2026. Trong đó có một số nội dung đáng chú ý, như sau:
 

Ảnh minh họa

- Theo Điều 5 Nghị định 329/2026/NĐ-CP về lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng gồm các nội dung sau:

1) Lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng là lực lượng nòng cốt, được bố trí tại Bộ Công an, Bộ Quốc phòng theo quy định của Luật An ninh mạng và pháp luật có liên quan.

2) Lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng có nhiệm vụ:

a) Tham mưu chính sách, pháp luật về an ninh mạng, an ninh dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân, dự án công nghệ chiến lược theo quy định của pháp luật;

b) Quản lý nhà nước về an ninh mạng, an ninh dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân theo quy định của pháp luật;

c) Thực hiện biện pháp bảo vệ an ninh mạng, an ninh dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân theo quy định của pháp luật;

d) Phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, xử lý hoạt động xâm phạm an ninh mạng, an ninh dữ liệu, dữ liệu cá nhân theo thẩm quyền;


đ) Điều phối, kiểm tra, hướng dẫn, huấn luyện, diễn tập, ứng cứu sự cố an ninh mạng, an ninh dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân theo quy định của pháp luật;

e) Hợp tác quốc tế về an ninh mạng, an ninh dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân theo quy định của pháp luật;

g) Nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật.

3) Lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng được ưu tiên bảo đảm biên chế, vị trí việc làm, điều kiện làm việc, trang thiết bị chuyên dùng, đào tạo chuyên sâu và được áp dụng chính sách quy định tại Chương III của Nghị định này.

- Theo Điều 8 Nghị định 329/2026/NĐ-CP quy định “Tiêu chuẩn đối với cá nhân tham gia lực lượng bảo vệ an ninh mạng”, như sau:

1) Cá nhân tham gia lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng và lực lượng thường trực bảo vệ an ninh mạng bố trí tại bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cơ quan, tổ chức quản lý trực tiếp hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia phải bảo đảm tiêu chuẩn theo quy định của Luật An ninh mạng, quy định pháp luật có liên quan và các tiêu chuẩn sau:

a) Tiêu chuẩn chuyên môn theo vị trí việc làm bao gồm khung năng lực, yêu cầu về văn bằng, chứng chỉ chuyên môn, kỹ năng, kinh nghiệm và sản phẩm công việc theo quy định của cơ quan có thẩm quyền;

b) Đối với vị trí tiếp cận hệ thống thông tin quan trọng, dữ liệu nhạy cảm hoặc thực hiện điều tra số, cơ quan quản lý thực hiện thẩm định độ tin cậy, kiểm soát xung đột lợi ích và quản trị truy cập theo nguyên tắc tối thiểu.

2) Cá nhân tham gia lực lượng dự bị và lực lượng thường trực bảo vệ an ninh mạng không thuộc quy định tại khoản 1 Điều này đáp ứng các tiêu chuẩn sau đây:

a) Có phẩm chất chính trị, đạo đức, ý thức kỷ luật phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ;

b) Không thuộc trường hợp có xung đột lợi ích theo quy định của pháp luật;

c) Có năng lực chuyên môn phù hợp với nhiệm vụ được giao;

d) Có ý thức tuân thủ các quy định, cam kết về bảo vệ bí mật nhà nước, bí mật công tác, bảo mật thông tin.

3) Công an chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc phòng và cơ quan có liên quan ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành quy định về khung năng lực, tiêu chuẩn vị trí việc làm, tiêu chí đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ, quy trình thẩm định độ tin cậy và kiểm soát xung đột lợi ích đối với lực lượng bảo vệ an ninh mạng.

- Theo Điều 15 Nghị định 329/2026/NĐ-CP quy định “Tiêu chí, tiêu chuẩn, điều kiện áp dụng chính sách thu hút nhân tài vào lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng” như sau:

1) Đối tượng áp dụng chính sách thu hút nhân tài theo Điều này là người chưa thuộc lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng, được xem xét tuyển dụng, tiếp nhận, bố trí, sử dụng hoặc ký hợp đồng để tham gia thực hiện nhiệm vụ trong lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng, khi đáp ứng một trong các tiêu chí, tiêu chuẩn, điều kiện sau đây:

a) Là chuyên gia, nhà khoa học, kỹ sư, lập trình viên, chuyên gia dữ liệu, chuyên gia trí tuệ nhân tạo, chuyên gia mật mã, chuyên gia điện tử - viễn thông, chuyên gia bán dẫn, chuyên gia công nghệ lượng tử, chuyên gia phân tích mã độc, chuyên gia điều tra số, chuyên gia ứng cứu sự cố mạng hoặc người có trình độ chuyên môn cao trong lĩnh vực có liên quan trực tiếp đến bảo vệ an ninh mạng;

b) Có công trình nghiên cứu, sáng chế, giải pháp, sản phẩm, phần mềm, nền tảng, mô hình, kết quả thực tiễn hoặc thành tích nghề nghiệp được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền hoặc giới chuyên môn trong nước, quốc tế ghi nhận;

c) Là sinh viên tốt nghiệp hạng xuất sắc, nhà khoa học trẻ, kỹ sư trẻ tài năng, người có thành tích đặc biệt xuất sắc trong học tập, nghiên cứu, thi đấu, sáng tạo, phát triển công nghệ thuộc ngành, chuyên ngành phù hợp;

d) Có thành tích đặc biệt xuất sắc, vượt trội so với yêu cầu của vị trí dự kiến bố trí hoặc có sáng kiến, giải pháp đột phá, tạo ra sản phẩm, kết quả cụ thể có giá trị cao, đóng góp thiết thực cho công tác bảo vệ an ninh mạng;

đ) Có uy tín chuyên môn, kinh nghiệm thực tiễn nổi trội, có khả năng giải quyết các vấn đề phức tạp, mới, khó, cấp bách trong lĩnh vực an ninh mạng.

2) Việc áp dụng chính sách thu hút nhân tài phải bảo đảm đúng đối tượng, đúng tiêu chuẩn, đúng thẩm quyền, công khai, minh bạch, khách quan, hiệu quả và gắn với yêu cầu xây dựng, phát triển lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng.

3) Người được xem xét áp dụng chính sách thu hút nhân tài theo Điều này chỉ được áp dụng chính sách đãi ngộ quy định tại Điều 16 của Nghị định này sau khi đã được tuyển dụng, tiếp nhận, bố trí hoặc giao nhiệm vụ trong lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng theo quy định của pháp luật.

- Theo khoản 2 Điều 16 Nghị định 329/2026/NĐ-CP quy định người thuộc biên chế lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng hoặc thuộc diện đãi ngộ, thu hút nhân tài, ngoài tiền lương, phụ cấp và các chế độ khác, được xem xét hưởng hỗ trợ tăng thêm theo ba mức.

Mức 1 tối đa bằng 100% mức lương theo hệ số lương hiện hưởng, áp dụng đối với người thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, nghiệp vụ và không thuộc trường hợp hưởng mức 2 hoặc mức 3.

Mức 2 tối đa bằng 200%, áp dụng với người trực tiếp tham mưu chiến lược; thực hiện nhiệm vụ chuyên sâu; đấu tranh phòng, chống gián điệp mạng, khủng bố mạng, chiến tranh mạng, tội phạm mạng; vận hành, bảo vệ hệ thống, nền tảng và giải pháp công nghệ chiến lược.

Mức 3 tối đa bằng 300%, dành cho người trực tiếp nghiên cứu, phát triển, làm chủ ứng dụng hoặc sản phẩm công nghệ chiến lược, công nghệ mới có tác động trực tiếp đến an ninh quốc gia. Người thực hiện nhiệm vụ bảo mật đặc biệt, cường độ đặc biệt cao, xử lý tình huống khẩn cấp 24/7 hoặc nhiệm vụ ảnh hưởng lớn đến an ninh quốc gia cũng thuộc diện xem xét hưởng mức này.

- Theo khoản 6 Điều 16 Nghị định số 329/NĐ-CP quy định “Trường hợp một người đồng thời đáp ứng điều kiện hưởng nhiều mức hỗ trợ tăng thêm hằng tháng hoặc nhiều chính sách hỗ trợ, đãi ngộ có cùng tính chất, mục đích thì chỉ được hưởng một mức cao nhất, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.

Trong kỷ nguyên số hóa mạnh mẽ hiện nay, việc bảo đảm an toàn thông tin và không gian mạng quốc gia trở thành nhiệm vụ chiến lược cấp thiết hàng đầu. Do đó, việc Chính phủ chính thức ban hành Nghị định số 329/2026/NĐ-CP ngày 19/8/2026 quy định về lực lượng bảo vệ an ninh mạng nhằm hiện thực hóa các mục tiêu pháp lý quan trọng được ban hành trong Luật An ninh mạng 2025; góp phần hoàn thiện khuôn khổ pháp lý toàn diện nhằm xây dựng năng lực bảo vệ không gian mạng quốc gia; đồng thời, quy định toàn diện về lực lượng bảo vệ an ninh mạng cũng như chế độ đãi ngộ dành cho đội ngũ nhân tài thực hiện nhiệm vụ đặc thù này; góp phần quan trọng trong việc nâng cao năng lực phòng thủ, bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên số./.

Huỳnh Kiểm