|
| Chính phủ ban hành Nghị định quy định về hoạt động kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng, có hiệu lực từ ngày 19/8/2026 |
| Cập nhật ngày: 25-08-2026 |
| Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 332/2026/NĐ-CP quy định về hoạt động kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng. Nghị định gồm 04 chương, 22 điều và có hiệu lực thi hành từ ngày 19/8/2026. Trong đó có một số nội dung đáng chú ý, như sau: |
![]() Ảnh minh hoạ (Nguồn internet) Theo Điều 3 Nghị định số 332/2026/NĐ-CP quy định về “Sản phẩm an ninh mạng”, gồm: - Sản phẩm kiểm tra, đánh giá an ninh mạng là các thiết bị phần cứng, phần mềm có các tính năng hoặc được thiết kế để tích hợp các tính năng sau: Rà quét, kiểm tra, phân tích cấu hình, hiện trạng, dữ liệu nhật ký của hệ thống thông tin, thiết bị điện tử; phát hiện lỗ hổng, điểm yếu; đưa ra đánh giá rủi ro an ninh mạng. - Sản phẩm giám sát an ninh mạng là các thiết bị phần cứng, phần mềm có các tính năng hoặc được thiết kế để tích hợp các tính năng sau: Giám sát, phân tích dữ liệu, địa chỉ mạng, lưu lượng mạng; thu thập, phân tích dữ liệu nhật ký theo thời gian thực; phát hiện và đưa ra cảnh báo sự kiện bất thường, có nguy cơ gây mất an ninh mạng. - Sản phẩm chống tấn công, xâm nhập là các thiết bị phần cứng, phần mềm có tính năng hoặc được thiết kế để tích hợp các tính năng ngăn chặn tấn công, xâm nhập vào hệ thống thông tin. - Sản phẩm an ninh mạng khác thuộc một trong các sản phẩm sau: Sản phẩm bí mật thu thập thông tin, bao gồm: Các thiết bị phần cứng, phần mềm có tính năng bí mật thu thập thông tin trên không gian mạng, trong các phương tiện, thiết bị điện tử; Sản phẩm chế áp thông tin mạng, bao gồm: Các thiết bị phần cứng, phần mềm chuyên dụng để ngăn chặn, chèn, gây nhiễu, phá đường truyền Internet không dây tại các khu vực, mục tiêu cần bảo vệ; Sản phẩm pháp y số, điều tra số, bao gồm: Các thiết bị phần cứng, phần mềm chuyên dụng thu thập, trích xuất, phục hồi, phân tích dữ liệu điện tử và giám định kỹ thuật số từ nguồn dữ liệu điện tử; Sản phẩm chế áp hệ thống mạng, bao gồm: Các thiết bị phần cứng, phần mềm chuyên dụng để chế áp hoặc thay đổi hoạt động của mạng viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính, hệ thống thông tin, hệ thống xử lý và điều khiển thông tin, cơ sở dữ liệu, phương tiện điện tử; Sản phẩm che giấu địa chỉ IP là sản phẩm kết nối mạng giữa thiết bị và không gian mạng thông qua máy chủ từ xa nhằm che giấu địa chỉ IP thật của thiết bị trên không gian mạng. Theo Điều 4 Nghị định số 332/2026/NĐ-CP quy định về “Dịch vụ an ninh mạng” gồm: - Dịch vụ kiểm tra, đánh giá an ninh mạng là dịch vụ rà quét, kiểm tra, phân tích cấu hình, hiện trạng, dữ liệu nhật ký của hệ thống thông tin; phát hiện lỗ hổng, điểm yếu; đưa ra đánh giá rủi ro mất an ninh mạng. - Dịch vụ bảo mật thông tin không sử dụng mật mã dân sự là dịch vụ hỗ trợ người sử dụng đảm bảo tính bí mật của thông tin, hệ thống thông tin mà không sử dụng sản phẩm mật mã dân sự. - Dịch vụ tư vấn an ninh mạng là dịch vụ hỗ trợ tư vấn, kiểm tra, đánh giá, triển khai, thiết kế, xây dựng các giải pháp bảo đảm an ninh mạng. - Dịch vụ giám sát an ninh mạng là dịch vụ giám sát, phân tích lưu lượng dữ liệu truyền trên hệ thống thông tin; thu thập, phân tích dữ liệu nhật ký theo thời gian thực; phát hiện và đưa ra cảnh báo sự kiện bất thường, có nguy cơ gây mất an ninh mạng. - Dịch vụ ứng cứu sự cố an ninh mạng là dịch vụ xử lý, khắc phục kịp thời sự cố gây mất an ninh mạng đối với hệ thống thông tin. - Dịch vụ khôi phục dữ liệu là dịch vụ phục hồi dữ liệu trong thiết bị điện tử, hệ thống thông tin đã bị xóa hoặc hư hỏng. - Dịch vụ phòng ngừa, chống tấn công mạng là dịch vụ ngăn chặn các hành vi tấn công, xâm nhập vào hệ thống thông tin thông qua việc giám sát, thu thập, phân tích các sự kiện đang xảy ra trên hệ thống thông tin. - Ngoài ra Nghị định này còn quy định về các dịch vụ an ninh mạng khác như: Dịch vụ cung cấp nền tảng kết nối bảo vệ an ninh mạng; Dịch vụ huấn luyện, diễn tập bảo vệ an ninh mạng; Dịch vụ che giấu địa chỉ IP trên không gian mạng; Dịch vụ săn tìm và báo cáo lỗ hổng bảo mật. Theo Điều 5 Nghị định 332/2026/NĐ-CP quy định về “Kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng”, như sau: - Tổ chức, doanh nghiệp phải có Giấy phép kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng khi kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng thuộc Điều 3, Điều 4 Nghị định này. - Giấy phép kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng có thời hạn 10 năm. - Tổ chức, doanh nghiệp nộp hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng phải nộp phí theo quy định của pháp luật về phí và lệ phí. - Theo khoản 2 Điều 10 Nghị định số 332/NĐ-CP quy định về “Hồ sơ đề nghị cấp đổi Giấy phép kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng”, gồm đủ thành phần tài liệu sau đây: Văn bản đề nghị theo Mẫu số 03 tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này; Bản khai lý lịch kèm theo các giấy tờ cá nhân của người đại diện theo pháp luật; Bản mô tả chi tiết nội dung cấp đổi; Tài liệu chứng minh các điều kiện đối với loại hình kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng tương ứng với đề nghị cấp đổi của doanh nghiệp (trong trường hợp sửa đổi tên tổ chức, doanh nghiệp hoặc người đại diện theo pháp luật của tổ chức, doanh nghiệp hoặc bổ sung, thay đổi sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng). Theo khoản 1 Điều 13 Nghị định số 332/2026/NĐ-CP quy định khi xuất khẩu, nhập khẩu sản phẩm an ninh mạng thuộc danh mục sản phẩm an ninh mạng xuất khẩu, nhập khẩu theo giấy phép tại Phụ lục kèm theo Nghị định, tổ chức, doanh nghiệp phải có giấy phép do Bộ Công an cấp. Giấy phép được cấp theo từng lô xuất khẩu, nhập khẩu và có thời hạn 2 năm. Đồng thời, tổ chức, doanh nghiệp đề nghị cấp giấy phép này phải có Giấy phép kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng và nộp lệ phí theo quy định. Theo khoản 7 Điều 13 Nghị định số 332/2026/NĐ-CP trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị hợp lệ, Bộ Công an xem xét và cấp giấy phép cho tổ chức, doanh nghiệp; nếu từ chối phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do. Theo khoản 1 Điều 14 Nghị định số 332/2026/NĐ-CP quy định Giấy phép kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng bị thu hồi không có thời hạn trong 05 trường hợp sau: - Giả mạo hồ sơ hoặc cung cấp thông tin trong tài liệu không đúng thực tế để đề nghị cấp Giấy phép kinh doanh sản phầm, dịch vụ an ninh mạng; Giấy phép kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng được cấp không đúng thẩm quyền; - Không đáp ứng điều kiện kinh doanh quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 8 Nghị định 332 2026 NĐ-CP, đã được cơ quan có thầm quyền kiểm tra phát hiện, yêu cầu khắc phục mà vẫn không khắc phục trong thời hạn 40 ngày kế từ ngày nhận được yêu cầu; - Sau 06 tháng kể từ ngày được cấp Giấy phép kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng mà tổ chức, doanh nghiệp không hoạt động; - Tổ chức, doanh nghiệp bị đỉnh chỉ hoạt động hoặc bị giải thể, phá sản theo quy định của pháp luật hoặc bị cơ quan có thầm quyền thu hồi các văn bản đăng ký thành lập; kiến nghị thu hồi Giấy phép kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng; - Tổ chức, doanh nghiệp cho mượn, cho thuê, mua, bán Giấy phép kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng. - Ngoài ra, theo khoản 3 Điều 14 Nghị định 332/2026/NĐ-CP, khi phát hiện trường hợp thuộc diện thu hồi giấy phép kinh doanh trong quá trình kiểm tra, cơ quan kiểm tra lập biên bản và gửi Bộ Công an. Trong 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được biên bản, Bộ Công an xem xét, quyết định việc thu hồi Giấy phép. Đồng thời, theo khoản 4 Điều này, khi Giấy phép kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng bị thu hồi thì Giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu sản phẩm an ninh mạng không còn hiệu lực. Việc Bộ Công an được giao chủ trì, tham mưu Chính phủ xây dựng và ban hành Nghị định 332/2026/NĐ-CP quy định về hoạt động kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc triển khai thi hành Luật An ninh mạng năm 2025 được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10, có hiệu lực từ ngày 01/7/2026. Đây là bước đi cần thiết nhằm cụ thể hóa các quy định của Luật, đồng thời đáp ứng yêu cầu thực tiễn trong công tác quản lý và phát triển lĩnh vực an ninh mạng. Đồng thời, việc ban Nghị định này góp phần hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, góp phần tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, nâng cao hiệu quả bảo vệ an ninh mạng, đồng thời phục vụ công tác phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao./. Huỳnh Kiểm |