CÔNG AN BẠC LIÊU
Chính phủ ban hành Nghị định 335/2026/NĐ-CP quy định chính sách trợ giúp xã hội, có hiệu lực từ ngày 05/10/2026
Cập nhật ngày: 25-08-2026
Ngày 21/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định 335/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội; gồm 07 chương, 35 điều, có hiệu lực từ ngày 05/10/2026. Trong đó có một số nội dung đáng chú ý, như sau:

Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)
 

Theo khoản 2 Điều 4 Nghị định 335/2026/NĐ-CP điều chỉnh mức chuẩn trợ giúp xã hội chính thức tăng từ 500.000 đồng/tháng lên 540.000 đồng/tháng.

Theo Điều 5 Nghị định 335/2026/NĐ-CP quy định đối tượng trợ cấp như sau:

- Trẻ em dưới 16 tuổi thuộc một trong các trường hợp quy định sau:

Bị bỏ rơi chưa có người nhận làm con nuôi;

Trẻ em mà cả cha mẹ đẻ đã chết hoặc một trong hai người đã chết và người kia không xác định được;

Trẻ em có cha hoặc mẹ đã chết hoặc không xác định được và người còn lại bị tuyên bố mất tích theo quy định của pháp luật;

Trẻ em có cha hoặc mẹ đã chết hoặc không xác định được và người còn lại đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội...

- Người dưới 16 tuổi đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng mà đủ 16 tuổi nhưng đang học giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học văn bằng thứ nhất nếu quá trình học liên tục không bị gián đoạn (trừ trường hợp được tạm dừng học, bảo lưu kết quả học tập theo quy định của pháp luật về giáo dục) thì tiếp tục được hưởng chính sách trợ giúp xã hội cho đến khi kết thúc học.

- Trẻ em nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ nghèo.

- Người thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo chưa có chồng hoặc chưa có vợ; đã có chồng hoặc vợ nhưng đã chết hoặc mất tích theo quy định của pháp luật và đang nuôi con dưới 16 tuổi (sau đây gọi chung là người đơn thân nghèo nuôi con).

- Người cao tuổi thuộc một trong các trường hợp quy định sau đây:
Người cao tuổi thuộc hộ nghèo, không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng hoặc có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng nhưng người này đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng;

Người cao tuổi thuộc hộ nghèo, không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng, không có điều kiện sống ở cộng đồng, đủ điều kiện tiếp nhận vào cơ sở trợ giúp xã hội nhưng có người nhận nuôi dưỡng, chăm sóc tại cộng đồng.

- Người khuyết tật nặng, người khuyết tật đặc biệt nặng theo quy định pháp luật về người khuyết tật.

- Trẻ em dưới 03 tuổi thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo không thuộc đối tượng quy định tại các khoản 1, khoản 3 và khoản 6 Điều này đang sống tại địa bàn các xã, thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đặc biệt khó khăn.

- Người nhiễm HIV/AIDS thuộc diện hộ nghèo không có tiền lương, tiền công, lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng.

Theo Điều 10 Nghị định số 335/2026/NĐ-CP về “Trợ giúp giáo dục, đào tạo” quy định như sau: Đối tượng quy định tại Điều 5 Nghị định này đang học giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học được hưởng chính sách, chế độ hỗ trợ về giáo dục, đào tạo theo quy định của pháp luật.

Theo khoản 1 và khoản 2 Điều 11 Nghị định số 335/2026/NĐ-CP quy định về đối tượng và mức hỗ trợ chi phí mai táng, như sau:

- Đối tượng hỗ trợ chi phí mai táng khi chết theo quy định như sau:

Đối tượng quy định tại Điều 5 Nghị định này đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng hoặc đối tượng đã có Tờ khai đề nghị hưởng chế độ, chính sách và đủ điều kiện hưởng, nhưng Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã chưa ban hành quyết định trợ cấp xã hội hằng tháng;

Con của người đơn thân nghèo nuôi con quy định tại khoản 4 Điều 5 Nghị định này

Người từ đủ 75 tuổi đang hưởng trợ cấp tuất bảo hiểm xã hội hằng tháng, trợ cấp hằng tháng khác;

Người từ đủ 70 đến dưới 75 tuổi thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo đang hưởng trợ cấp tuất bảo hiểm xã hội hằng tháng.

- Mức hỗ trợ chi phí mai táng đối với đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này tối thiểu bằng 20 lần mức chuẩn quy định tại khoản 2 Điều 4 Nghị định này. Trường hợp đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này được hỗ trợ chi phí mai táng, mai táng phí quy định tại các văn bản khác nhau với mức hưởng hỗ trợ khác nhau thì chỉ được hưởng một mức cao nhất.

Theo Điều 12 Nghị định số 335/2026/NĐ-CP về Chế độ, chính sách trợ giúp khẩn cấp như sau:

- Hỗ trợ lương thực, nhu yếu phẩm thiết yếu

a) Hỗ trợ 15 kg gạo/người/tháng trong thời gian 01 tháng cho mỗi đợt hỗ trợ đối với các đối tượng thuộc hộ thiếu đói dịp Tết Nguyên đán. Hỗ trợ không quá 03 tháng cho mỗi đợt hỗ trợ cho đối tượng thiếu đói do thiên tai, hỏa hoạn, mất mùa, giáp hạt hoặc lý do bất khả kháng khác từ nguồn lực của địa phương và nguồn dự trữ quốc gia;

b) Đối tượng có hoàn cảnh khó khăn do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh hoặc các lý do bất khả kháng khác mà mất nhà ở và không có khả năng tự bảo đảm các nhu cầu thiết yếu thì được xem xét hỗ trợ từ nguồn lực huy động hoặc nguồn dự trữ quốc gia: lều bạt, nước uống, thực phẩm, chăn màn, xoong nồi, chất đốt, xuồng máy và một số mặt hàng thiết yếu khác phục vụ nhu cầu trước mắt, tại chỗ.

- Người bị thương nặng do thiên tai, hỏa hoạn; tai nạn giao thông, tai nạn lao động nghiêm trọng hoặc các lý do bất khả kháng khác mà phải cấp cứu và điều trị tại cơ sở y tế từ 03 ngày trở lên thì được xem xét hỗ trợ với mức thấp nhất bằng 10 lần mức chuẩn trợ giúp xã hội quy định tại khoản

2 Điều 4 Nghị định này

- Hỗ trợ chi phí mai táng

a) Hộ gia đình có người chết, mất tích do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh, tai nạn giao thông, tai nạn lao động nghiêm trọng hoặc các lý do bất khả kháng khác được xem xét hỗ trợ chi phí mai táng với mức thấp nhất bằng 50 lần mức chuẩn trợ giúp xã hội quy định tại khoản 2 Điều 4 Nghị định này;

b) Cơ quan, tổ chức, cá nhân tổ chức mai táng cho người chết quy định tại khoản 1 Điều này do không có người thân thích nhận trách nhiệm tổ chức mai táng thì được xem xét, hỗ trợ chi phí mai táng theo chi phí thực tế, thấp nhất bằng 50 lần mức chuẩn trợ giúp xã hội quy định tại khoản 2 Điều 4 Nghị định này;

c) Thủ tục hỗ trợ chi phí mai táng thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 11 Nghị định này.

- Hỗ trợ làm nhà ở, sửa chữa nhà ở

a) Hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn có nhà ở bị đổ, sập, trôi, cháy hoàn toàn do thiên tai, hỏa hoạn hoặc các lý do bất khả kháng khác mà không còn nơi ở thì được xem xét hỗ trợ chi phí làm nhà ở với mức thấp nhất 40.000.000 đồng/hộ;

b) Hộ phải di dời nhà ở khẩn cấp theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền do nguy cơ sạt lở, lũ, lụt, thiên tai, hỏa hoạn hoặc các lý do bất khả kháng khác được xem xét hỗ trợ chi phí di dời nhà ở với mức thấp nhất 30.000.000 đồng/hộ;

c) Hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn có nhà ở bị hư hỏng nặng do thiên tai, hỏa hoạn hoặc các lý do bất khả kháng khác mà không ở được thì được xem xét hỗ trợ chi phí sửa chữa nhà ở với mức thấp nhất 20.000.000 đồng/hộ.

Phát triển bền vững và duy trì ổn định nền kinh tế, xã hội luôn là mục tiêu hướng đến của mỗi quốc gia trên thế giới. Mục tiêu trên chỉ có thể được giải quyết triệt để và luôn được Chính phủ nước ta quan tâm thực hiện đó là đảm bảo an sinh xã hội cho tất cả người dân. Một vấn đề quan trọng đặt ra là phải thường xuyên nghiên cứu cải cách hệ thống chính sách, tạo điều kiện để mọi người dân, kể cả nhóm người yếu thế trong xã hội - những người ít có cơ hội tiếp cận, được tham gia vào mạng lưới an sinh xã hội. Nghị định số 335/2026/NĐ-CP được Chính phủ ban hành có ý nghĩa quan trọng đối với các đối tượng yếu thế là trẻ em, hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn, người chịu thiệt thòi, được hỗ trợ trong những tình huống khẩn cấp như thiên tai, bão lũ, hỏa hoạn, tai nạn giao thông, tai nạn lao động… Những chính sách trên thể hiện thông điệp mà Đảng và Nhà nước đã và đang hướng tới đó là không để ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình phát triển vươn lên của đất nước./.
 
Huỳnh Kiểm
 
 

Các tin khác
  • Tin ảnh

  • 

  • 
    Đang online: 1
    Hôm nay: 20110
    Trong tuần: 31
    Trong tháng 510867
    Tất cả: 28434522