Theo Luật Bảo vệ bí mật nhà nước, việc xác định bí mật nhà nước phải dựa trên tính chất quan trọng của thông tin, phạm vi lĩnh vực được luật xác định và đặc biệt phải thuộc danh mục bí mật nhà nước do Thủ tướng Chính phủ ban hành. Để xác định một tài liệu có phải bí mật nhà nước hay không, trước hết phải hiểu rõ: nội dung thông tin trong tài liệu đó có thuộc danh mục bí mật nhà nước do cơ quan có thẩm quyền ban hành hay không? Nếu có, thuộc danh mục và độ mật nào? Đây là điểm mấu chốt để phân biệt giữa bảo vệ bí mật nhà nước đúng pháp luật và việc “bí mật hóa” thông tin theo nhận định chủ quan.

Ảnh minh họa
Khi nhắc đến văn bản bí mật nhà nước, thấy văn bản có đóng dấu “Mật” thì cho rằng mọi vấn đề có liên quan đến văn bản đó đều không được đề cập. Không nhìn dấu xác định độ mật, mà phải xem thông tin cụ thể cần bảo vệ:
Chẳng hạn, một văn bản được xác định độ “Mật” vì trong đó có số liệu, nội dung cụ thể thuộc danh mục bí mật nhà nước, những thông tin thuộc danh mục trong văn bản phải được bảo vệ nghiêm ngặt. Tuy nhiên, không vì văn bản đó mang dấu “Mật” mà tất cả các thông tin, nội dung khác trong văn bản không thuộc danh mục bí mật nhà nước cũng trở thành “Mật”.
Hay tại một cuộc họp có nội dung thuộc danh mục bí mật nhà nước và cũng có những thông tin không thuộc bí mật nhà nước. Khi xem xét tuyên truyền cần rà soát đâu là nội dung dự kiến được đưa ra công khai, thay vì chỉ căn cứ vào việc cuộc họp có sử dụng tài liệu chứa bí mật nhà nước để kết luận toàn bộ thông tin về cuộc họp đều không thể tuyên truyền. Nói cách khác, phải bảo vệ chính xác thông tin thuộc danh mục bí mật nhà nước, không tự mở rộng phạm vi bí mật nhà nước đối với những thông tin khác được công khai.
Các quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước được ban hành để cơ quan, tổ chức, cán bộ và Nhân dân biết và thực hiện. Vì vậy, các nội dung về nguyên tắc bảo vệ, hành vi bị nghiêm cấm, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân, thẩm quyền xác định độ mật, quy trình quản lý tài liệu và các biện pháp phòng ngừa lộ, mất bí mật nhà nước là những nội dung cần được tuyên truyền, phổ biến sâu rộng.
Cần tránh tình trạng “bí mật hóa” thông tin không nằm trong danh mục bí mật nhà nước. Bảo vệ bí mật nhà nước phải nghiêm ngặt nhưng không có nghĩa càng nhiều tài liệu được xác định độ mật càng tốt. Việc xác định độ mật đối với thông tin không thuộc danh mục thành bí mật nhà nước là vi phạm pháp luật, làm phát sinh không cần thiết các yêu cầu về soạn thảo, sao, chụp, lưu giữ, giao nhận, vận chuyển, cung cấp và tiêu hủy tài liệu; đồng thời ảnh hưởng đến việc trao đổi, xử lý và công khai thông tin.
Xác định đúng bí mật nhà nước là cơ sở để bảo vệ đúng thông tin cần bảo vệ, đảm bảo theo nguyên tắc: không “mật hóa” theo cảm tính, không “giải mật” theo suy đoán; qua đó, góp phần nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ bí mật nhà nước, phục vụ hoạt động quản lý, trao đổi thông tin và tuyên truyền, phổ biến pháp luật./.
Thanh Dương