Làm lộ, làm mất bí mật nhà nước: nguy cơ từ sự chủ quan và trách nhiệm trước pháp luật
Cập nhật ngày: 22-09-2026
 
Bảo vệ bí mật nhà nước là trách nhiệm của mỗi cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan. Chỉ một hành vi sơ suất trong quản lý, sử dụng, lưu giữ hoặc trao đổi thông tin, tài liệu cũng có thể dẫn đến nguy cơ lộ, mất bí mật nhà nước, ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, dân tộc và có thể bị xử lý hình sự theo quy định.
 

Ảnh minh hoạ
 
Nghiêm cấm các hành vi làm lộ, mất bí mật nhà nước

Theo Luật Bảo vệ bí mật nhà nước số 117/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 01/3/2026, các hành vi xâm phạm bí mật nhà nước và vi phạm quy định về bảo vệ bí mật nhà nước bị nghiêm cấm. Trong đó, đáng chú ý là hành vi làm lộ, chiếm đoạt, mua bán bí mật nhà nước; làm sai lệch, hư hỏng, mất tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước; thu thập, trao đổi, cung cấp, chuyển giao bí mật nhà nước trái pháp luật; sao, chụp, lưu giữ, vận chuyển, giao nhận, tiêu hủy tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước trái quy định.

Luật cũng quy định nghiêm cấm việc soạn thảo, lưu giữ tài liệu bí mật nhà nước trên máy tính, thiết bị đang kết nối với mạng máy tính, mạng Internet, mạng viễn thông trái quy định; sử dụng máy tính, thiết bị khác khi chưa bảo đảm an ninh, an toàn và phòng, chống nguy cơ xâm phạm bí mật nhà nước.

Việc tiếp cận, khai thác, sử dụng và trao đổi thông tin thuộc bí mật nhà nước phải đúng thẩm quyền, mục đích, phạm vi và quy trình bảo vệ theo quy định của pháp luật. Mỗi cá nhân cần nhận thức rõ rằng, việc được giao tiếp cận tài liệu không đồng nghĩa với việc được tự ý sao chụp, cung cấp hoặc chia sẻ tài liệu đó.

Cố ý hay vô ý đều có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự

Tùy tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi, người vi phạm quy định về bảo vệ bí mật nhà nước có thể bị xử lý theo quy định của pháp luật, trong đó có trách nhiệm hình sự.

Theo Điều 337 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, người cố ý làm lộ bí mật nhà nước; chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu hủy vật, tài liệu bí mật nhà nước, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 110 của Bộ luật này, có thể bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

Trường hợp phạm tội có các tình tiết như bí mật nhà nước thuộc độ tối mật, lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc gây tổn hại về quốc phòng, an ninh, đối ngoại, kinh tế, văn hóa, người phạm tội có thể bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm. Mức phạt tù từ 10 năm đến 15 năm được áp dụng đối với các trường hợp như phạm tội có tổ chức, bí mật nhà nước thuộc độ tuyệt mật, phạm tội 02 lần trở lên hoặc gây tổn hại về chế độ chính trị, độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ.

Ngoài hình phạt tù, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng; cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Đối với hành vi vô ý làm lộ bí mật nhà nước hoặc làm mất vật, tài liệu bí mật nhà nước, Điều 338 Bộ luật Hình sự quy định người vi phạm có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Trường hợp phạm tội thuộc các tình tiết được quy định tại khoản 2 Điều này, mức phạt tù từ 02 năm đến 07 năm. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Như vậy, không chỉ hành vi cố ý mà cả sự thiếu trách nhiệm, sơ suất dẫn đến làm lộ, làm mất bí mật nhà nước cũng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm.

Chủ động phòng ngừa từ những việc làm cụ thể

Để nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ bí mật nhà nước, mỗi cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và cá nhân có liên quan cần nâng cao ý thức trách nhiệm, chủ động tìm hiểu, chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật; thực hiện đúng quy trình trong quản lý, sử dụng, lưu giữ và trao đổi thông tin, tài liệu.

Không tự ý sao chụp, chụp ảnh, lưu trữ, cung cấp, chuyển tiếp hoặc chia sẻ tài liệu, thông tin thuộc bí mật nhà nước khi chưa được phép. Không sử dụng mạng xã hội, thư điện tử cá nhân, ứng dụng nhắn tin hoặc nền tảng trực tuyến không được phép để trao đổi, truyền đưa bí mật nhà nước.

Cùng với đó, cần quản lý chặt chẽ hồ sơ, tài liệu, máy tính, điện thoại, thiết bị lưu trữ và các vật chứa bí mật nhà nước; không để thất lạc, hư hỏng hoặc tạo điều kiện cho người không có thẩm quyền tiếp cận. Khi phát hiện tài liệu, thông tin có nguy cơ bị lộ, bị mất hoặc đã xảy ra sự cố, cần kịp thời báo cáo người có thẩm quyền, cơ quan, đơn vị quản lý để triển khai biện pháp xử lý theo quy định.

Bảo vệ bí mật nhà nước không chỉ là yêu cầu trong thực thi nhiệm vụ mà còn là trách nhiệm pháp lý của mỗi cá nhân. Thực hiện nghiêm các quy định, chủ động phòng ngừa từ những việc làm hằng ngày chính là góp phần bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, giữ vững an ninh, an toàn và nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan, tổ chức./.

Hoàng Thuận