Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
Cập nhật ngày: 23-09-2026
 
Ngày 23/8/2026, tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (viết tắt là Luật số 15/2026/QH16); gồm 03 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/3/2027. Trong đó, có một nội dung đáng chú ý như sau:
 
 
Ảnh minh hoạ
 
Theo điểm b, khoản 1, Điều 1 Luật số 15/2026/QH16 đã bổ sung khoản 9 và khoản 10 vào sau khoản 8 Điều 3 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017 cụ thể:

- Người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực là cá nhân thực hiện việc phản ánh, tố cáo, tố giác hành vi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao, trong quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công.

- Người thân của người tố cáo, người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực (sau đây gọi là người thân) gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi.

Như vậy, quy định mới đã bổ sung các đối tượng trong trường hợp tố cáo, đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực.

Theo điểm 2 khoản 13 Điều 1 Luật số 15/2026/QH16 sửa đổi bổ sung Điều 44 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017 quy định “Thủ trưởng cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại quyết định mức tạm ứng cho người yêu cầu bồi thường nhưng không dưới 75% giá trị các thiệt hại quy định tại khoản 1 Điều này”. Như vậy, theo đề nghị của người yêu cầu bồi thường, cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại phải tạm ứng kinh phí không dưới 75% giá trị các thiệt hại. So với khoản 4 Điều 44, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017 quy định mức tạm ứng do Thủ trưởng cơ quan giải quyết bồi thường quyết định nhưng không thấp hơn 50% giá trị thiệt hại.

Theo khoản 13 Điều 1 Luật số 15/2026/QH16 quy định sửa đổi bổ sung Điều 41 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017 về hồ sơ yêu cầu bồi thường. So với quy định hiện hành, quy định mới quy định theo hướng rút gọn hồ sơ yêu cầu bồi thường, cụ thể hồ sơ gồm:

- Văn bản yêu cầu bồi thường do người yêu cầu bồi thường gửi.

- Văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường do cơ quan giải quyết bồi thường tự cung cấp hoặc yêu cầu cơ quan nhà nước khác cung cấp.

- Bên cạnh đó, người dân được lựa chọn gửi yêu cầu bồi thường qua nhiều hình thức phù hợp với khả năng, điều kiện thực tế: Môi trường số, trực tiếp tại cơ quan hoặc Bộ phận Một cửa hoặc qua dịch vụ bưu chính. So với khoản 3 Điều 41 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017, Luật số 15/2026/QH16 đã bổ sung nội dung nộp hồ sơ qua “Môi trường số”.

Theo khoản 32 Điều 1 Luật số 15/2026/QH16, quy định bãi bỏ khoản 3 Điều 33 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017 về cơ quan giải quyết bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính của Uỷ ban nhân dân cấp huyện. Các quy định về cơ quan giải quyết bồi thường được điều chỉnh đồng bộ với kết quả sắp xếp tổ chức bộ máy và mô hình chính quyền địa phương hai cấp.   

Bên cạnh đó, tại khoản 32 Điều 1 Luật số 15/2026/QH16 còn quy định bãi bỏ Điều 63 quy định về quyết toán kinh phí bồi thường và Điều 75 quy định trách nhiệm các cơ quan Bộ, ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017.

Với những điểm mới nêu trên, có thể khẳng định Luật số 15/2026/QH16 được Quốc hội ban hành, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/3/2027 là bước hoàn thiện thể chế về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, vừa kịp thời thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng, thống nhất, đồng bộ với hệ thống pháp luật và bộ máy nhà nước sau sắp xếp, phù hợp với việc thực hiện mô hình chính quyền địa phương 02 cấp, vừa khắc phục được những khó khăn, vướng mắc đã được đánh giá, nhận diện rõ trong thực tiễn. Những nội dung sửa đổi, bổ sung đều góp phâbảo đảm tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, đồng thời nâng cao chất lượng thi hành công vụ./.

Huỳnh Kiểm