CÔNG AN BẠC LIÊU
Những quy định đáng chú ý về thí điểm thực hiện chế định luật sư công từ ngày 1/10/2026
Cập nhật ngày: 29-09-2026
Ngày 21/9/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 364/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Nghị quyết số 24/2026/QH16 ngày 24/4/2026 của Quốc hội về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công. Nghị định gồm 07 chương, 32 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2026, quy định cụ thể nhiều nội dung về đào tạo, tập sự, cấp Chứng chỉ hành nghề, quản lý và hoạt động của luật sư công, chế độ chính sách, xử lý vi phạm và giải quyết tố cáo.
 
Phiên tòa giả định được tổ chức tại xã Đông Hải, tỉnh Cà Mau nhằm tuyên
truyền pháp luật về chống khai thác IUU (Nguồn: Internet)

 
Nghị định được ban hành nhằm cụ thể hóa các quy định của Nghị quyết số 24/2026/QH16, đồng thời thiết lập các quy định để tổ chức triển khai thí điểm chế định luật sư công. Phạm vi điều chỉnh bao gồm đào tạo nghề luật sư, gia nhập Đoàn Luật sư, cấp Thẻ luật sư, lập danh sách, quản lý, hoạt động giải quyết công việc có tính chất pháp lý tại khu vực nhà nước, xử lý vi phạm và giải quyết tố cáo đối với luật sư công.
Cụ thể hóa quy trình đào tạo, tập sự và cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư
Theo Nghị định, người có bằng cử nhân luật hoặc thạc sĩ luật được tham dự khóa đào tạo nghề luật sư tại cơ sở đào tạo nghề luật sư để trở thành luật sư công. Thời gian đào tạo là 12 tháng. Nghị định cũng quy định các trường hợp được miễn đào tạo nghề luật sư, trong đó có một số người đã có trình độ, chức danh hoặc kinh nghiệm chuyên môn pháp lý theo quy định.
Đối với tập sự hành nghề luật sư để trở thành luật sư công, thời gian tập sự được xác định tùy thuộc vào quá trình công tác, chức danh và kinh nghiệm pháp luật của từng đối tượng. Người tập sự có thể thực hiện tập sự tại tổ chức hành nghề luật sư hoặc tại cơ quan, doanh nghiệp quản lý luật sư tập sự theo quy định.
Nghị định cũng quy định quyền, nghĩa vụ của luật sư tập sự và luật sư hướng dẫn; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức nhận tập sự và cơ quan, doanh nghiệp quản lý luật sư tập sự. Luật sư tập sự phải lập sổ nhật ký tập sự, báo cáo quá trình tập sự và thực hiện các công việc theo sự phân công, giám sát của luật sư hướng dẫn.
Sau khi hoàn thành thời gian tập sự, người đủ điều kiện được tham dự kỳ kiểm tra kết quả tập sự hành nghề luật sư do Bộ Tư pháp tổ chức. Người đạt yêu cầu được Bộ trưởng Bộ Tư pháp cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư theo quy định.
Nghị định đồng thời quy định thủ tục gia nhập Đoàn Luật sư và cấp Thẻ luật sư cho luật sư công; thủ tục thu hồi, cấp đổi, cấp lại Chứng chỉ hành nghề luật sư; lập và công khai danh sách luật sư công; cũng như việc bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ sau khi được cấp Chứng chỉ hành nghề.
Quy định cụ thể việc cử luật sư công giải quyết vụ, việc có tính chất pháp lý
Một nội dung đáng chú ý của Nghị định là quy định tại Điều 19 về cử luật sư công tham gia giải quyết công việc có tính chất pháp lý tại khu vực nhà nước.
Khi có nhu cầu sử dụng luật sư công để tham gia giải quyết vụ, việc có tính chất pháp lý, cơ quan thực hiện thí điểm cử luật sư công của cơ quan mình tham gia giải quyết vụ, việc.
Văn bản cử luật sư công phải thể hiện các nội dung chủ yếu gồm: họ tên, số Chứng chỉ hành nghề luật sư của người được cử; nội dung công việc; quyền và nghĩa vụ của luật sư công; thời hạn thực hiện nhiệm vụ; chế độ, chính sách được hưởng; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức có liên quan và các nội dung khác có liên quan.
Trường hợp cơ quan thực hiện thí điểm có nhu cầu sử dụng luật sư công của cơ quan khác, có thể đề nghị cơ quan, doanh nghiệp quản lý luật sư công cử người tham gia hoặc đề nghị Bộ Tư pháp giới thiệu luật sư công phù hợp.
Nghị định cũng quy định trách nhiệm của cơ quan sử dụng luật sư công trong việc xác định yêu cầu, phạm vi công việc; cung cấp đầy đủ, kịp thời hồ sơ, tài liệu, thông tin; tạo điều kiện để luật sư công thực hiện nhiệm vụ và phối hợp đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ.
Những trường hợp được từ chối cử luật sư công
Theo Điều 20 Nghị định số 364/2026/NĐ-CP, cơ quan, doanh nghiệp quản lý luật sư công được từ chối cử luật sư công khi có một trong các lý do: nội dung vụ, việc không phù hợp với lĩnh vực chuyên môn; không có luật sư công đủ năng lực chuyên môn; không bố trí được thời gian do luật sư công đang đồng thời thực hiện nhiệm vụ ưu tiên, khẩn cấp khác theo văn bản phân công của cấp có thẩm quyền; việc tham gia không bảo đảm tính độc lập, trung thực, khách quan hoặc có xung đột lợi ích; hoặc có lý do chính đáng khác.
Việc từ chối cử luật sư công phải được lập thành văn bản và nêu rõ lý do.
Đối với luật sư công, trường hợp việc tham gia giải quyết vụ, việc không bảo đảm tính độc lập, trung thực, khách quan hoặc có xung đột lợi ích thì luật sư công có nghĩa vụ từ chối tham gia và báo cáo bằng văn bản với người đứng đầu cơ quan sử dụng luật sư công và cơ quan, tổ chức quản lý mình.
Trong quá trình giải quyết vụ, việc, luật sư công có quyền bảo lưu ý kiến chuyên môn bằng văn bản và gửi văn bản bảo lưu cho cơ quan sử dụng luật sư công.
Quy định này nhằm bảo đảm các yêu cầu về tính độc lập, trung thực, khách quan trong hoạt động chuyên môn, đồng thời tạo cơ chế để ý kiến chuyên môn của luật sư công được ghi nhận trong quá trình giải quyết vụ, việc.
Trường hợp được thuê tổ chức hành nghề luật sư cùng tham gia
Theo Điều 21, cơ quan thực hiện thí điểm có thể lựa chọn và ký hợp đồng dịch vụ pháp lý với tổ chức hành nghề luật sư để cùng luật sư công giải quyết vụ, việc có tính chất pháp lý phức tạp.
Việc này được thực hiện trong một số trường hợp như: vụ, việc phức tạp, đòi hỏi chuyên môn sâu mà đội ngũ luật sư công chưa đáp ứng; số lượng vụ, việc phức tạp cần nhiều luật sư vượt quá khả năng của đội ngũ luật sư công; vụ, việc liên quan đến dự án quan trọng quốc gia hoặc dự án có tác động lớn đến kinh tế, xã hội; vụ, việc có yếu tố nước ngoài thuộc thẩm quyền tài phán quốc tế và các vụ, việc khác theo quyết định của cơ quan chủ trì giải quyết vụ, việc.
Việc lựa chọn tổ chức hành nghề luật sư phải bảo đảm công khai, minh bạch, phù hợp với tính chất vụ, việc và được thực hiện theo quy định được Nghị định dẫn chiếu.
Khi cùng giải quyết vụ, việc, luật sư công có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với luật sư của tổ chức hành nghề luật sư nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước. Hai bên có trách nhiệm trao đổi thông tin, tài liệu; thống nhất xây dựng, tổ chức thực hiện phương án giải quyết; đồng thời tuân thủ quy định về bảo vệ bí mật nhà nước, bí mật thông tin, bí mật nghề nghiệp và phòng ngừa xung đột lợi ích.
Trường hợp có ý kiến chuyên môn khác nhau, luật sư công và luật sư của tổ chức hành nghề luật sư có quyền bảo lưu ý kiến và báo cáo người đứng đầu cơ quan sử dụng luật sư công xem xét, quyết định. Người đứng đầu cơ quan sử dụng luật sư công chịu trách nhiệm về quyết định của mình; ý kiến chuyên môn và quyết định phải được thể hiện bằng văn bản, lưu vào hồ sơ vụ, việc.
Một buổi làm việc của luật sư công được tính 4 giờ
Theo Điều 23 Nghị định số 364/2026/NĐ-CP, một buổi làm việc của luật sư công theo quy định tại khoản 2 Điều 10 của Nghị quyết được tính là 04 giờ.
Trường hợp thời gian làm việc thực tế không đủ hoặc vượt quá 04 giờ thì được tính theo tỷ lệ tương ứng để làm căn cứ chi trả bồi dưỡng.
Thời gian làm việc được tính bao gồm các công việc như nghiên cứu, sao chụp hồ sơ, tài liệu; xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ; làm việc với cơ quan sử dụng luật sư công; làm việc với cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ, việc, tham gia tố tụng; làm việc với cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan; xây dựng phương án giải quyết và chuẩn bị hồ sơ vụ, việc cùng các công việc liên quan khác. Thời gian làm việc do cơ quan sử dụng luật sư công xác nhận.
Luật sư công được thanh toán chế độ bồi dưỡng trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày kết thúc tham gia giải quyết vụ, việc. Hồ sơ thanh toán gồm văn bản cử luật sư công, báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ, văn bản xác nhận thời gian làm việc, bảng kê thanh toán tiền bồi dưỡng và các tài liệu có liên quan.
Quy định về quản lý, xử lý vi phạm và giải quyết tố cáo
Nghị định giao Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về luật sư công; trong đó có nhiệm vụ xây dựng, trình ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các quy định liên quan, tổ chức kiểm tra kết quả tập sự, cấp, cấp đổi, cấp lại, thu hồi Chứng chỉ hành nghề luật sư, tổ chức bồi dưỡng, kiểm tra hoạt động và đánh giá hiệu quả hoạt động của luật sư công.
Đối với địa phương thực hiện thí điểm, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về luật sư công tại địa phương theo quy định; trong đó có công tác phổ biến, tuyên truyền pháp luật, tổ chức bồi dưỡng hằng năm và kiểm tra hoạt động của luật sư công.
Cơ quan thực hiện thí điểm có trách nhiệm tạo nguồn luật sư công, xác định nhu cầu sử dụng, cử luật sư công giải quyết công việc có tính chất pháp lý, bảo đảm chế độ, chính sách, bảo vệ an toàn, danh dự, uy tín của luật sư công khi thực hiện nhiệm vụ; đồng thời xử lý kỷ luật, giải quyết tố cáo liên quan đến luật sư công và đánh giá hiệu quả hoạt động theo quy định. Đối với Bộ Quốc phòng và Bộ Công an, Nghị định quy định việc quản lý luật sư công phù hợp với đặc thù quốc phòng, an ninh.
Luật sư công có hành vi vi phạm pháp luật, tùy theo tính chất, mức độ, có thể bị xử lý kỷ luật, truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc phải bồi thường nếu gây thiệt hại theo quy định của pháp luật. Trường hợp vi phạm Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam thì có thể bị xử lý theo Điều lệ Liên đoàn Luật sư Việt Nam.
Hiệu lực và trách nhiệm thi hành
Nghị định số 364/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2026. Nghị định quy định trách nhiệm của các cơ quan thực hiện thí điểm trong việc triển khai, bảo đảm phát huy hiệu quả đội ngũ luật sư công trong bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước, đồng thời tránh lãng phí, tiêu cực và việc lợi dụng quy định để hưởng chế độ, chính sách.
Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 364/2026/NĐ-CP là cơ sở quan trọng để triển khai thống nhất các quy định của Nghị quyết số 24/2026/QH16 về thí điểm thực hiện chế định luật sư công. Các quy định mới đồng thời làm rõ quy trình đào tạo, cấp Chứng chỉ hành nghề, quản lý và sử dụng luật sư công, cơ chế phối hợp với tổ chức hành nghề luật sư, chế độ chính sách cũng như trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan.
Qua đó, góp phần bảo đảm việc triển khai thí điểm chế định luật sư công có cơ sở pháp lý cụ thể, chặt chẽ, phát huy vai trò của đội ngũ luật sư công trong thực hiện các công việc có tính chất pháp lý tại khu vực nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước theo quy định./.
Huỳnh Kiểm
 
 
 
 

Các tin khác
  • Tin ảnh

  • 

  • 
    Đang online: 1
    Hôm nay: 13164
    Trong tuần: 68023
    Trong tháng 153176
    Tất cả: 28706451