Nghị định số 372/2026/NĐ-CP quy định về hoạt động định danh, xác thực, truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hoá, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2027
Cập nhật ngày: 5-10-2026
Ngày 29/9/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 372/2026/NĐ-CP quy định về hoạt động định danh, xác thực, truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hoá; gồm 08 chương với 38 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2027. Trong đó, quy định một số nội dung đáng chú ý, như sau:
Thiết lập Nền tảng quốc gia và Cơ sở dữ liệu quốc gia về sản phẩm, hàng hóa
Theo Điều 1 và Điều 4 Nghị định số 372/2026/NĐ-CP quy định việc xây dựng và vận hành Nền tảng quốc gia về định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa cùng với Cơ sở dữ liệu quốc gia về sản phẩm, hàng hóa theo nguyên tắc quản lý tập trung, thống nhất từ trung ương đến địa phương.
Nghị định quy định nền tảng và cơ sở dữ liệu được xây dựng, quản lý tập trung; các bộ, ngành, địa phương và tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thu thập, cập nhật, khai thác dữ liệu trong phạm vi quản lý.
Khoản 4 Điều 4 Nghị định này quy định yêu cầu hệ thống phải có tính mở, đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật, bảo đảm kết nối với các cơ sở dữ liệu quốc gia khác và được quản lý tập trung tại Trung tâm dữ liệu quốc gia.
Áp dụng mã định danh sản phẩm (UID) cho toàn bộ hàng hóa
Theo Điều 5 và Điều 8 Nghị định số 372/2026/NĐ-CP quy định mỗi sản phẩm, hàng hóa được cấp một mã định danh duy nhất (UID) trên Nền tảng quốc gia, như sau:
- Khoản 1 Điều 5 quy định mã UID được tạo lập tự động trên hệ thống; khoản 1 Điều 8 xác định việc định danh là tạo lập và gắn mã UID để nhận diện, xác thực và phục vụ truy xuất trong toàn bộ vòng đời sản phẩm.
- Khoản 2 Điều 8 quy định mã UID được cấp khi:
Doanh nghiệp tạo lập dữ liệu chủ lần đầu;
Dữ liệu được kết nối từ các hệ thống khác;
Hoặc theo yêu cầu quản lý nhà nước.
Khoản 3 Điều 8 quy định trường hợp sản phẩm đã có mã GTIN thì sử dụng làm thông tin đối chiếu, liên kết với UID.
Thiết lập định danh phi tập trung (DID) và cơ chế khóa mã hóa
Theo Điều 6 Nghị định số 372/2026/NĐ-CP quy định mỗi tổ chức, cá nhân tham gia hệ thống được cấp một mã định danh phi tập trung (DID) kèm theo khóa bí mật và khóa công khai. Mỗi sản phẩm được cấp một mã DID duy nhất để phục vụ định danh, xác thực và tạo lập chứng chỉ số, bằng chứng số. Bên cạnh đó, còn yêu cầu mã DID phải gắn với danh tính điện tử và được sử dụng thống nhất trong toàn bộ quá trình xác thực dữ liệu.
Áp dụng cơ chế chứng chỉ số và bằng chứng số trong xác thực dữ liệu
Theo Điều 7 Nghị định số 372/2026/NĐ-CP quy định việc khởi tạo, chia sẻ và xác minh dữ liệu sản phẩm được thực hiện thông qua chứng chỉ số và bằng chứng số. Chứng chỉ số phải được ký bằng khóa bí mật của bên phát hành và phải công bố khóa công khai, mã DID, thời điểm phát hành, thời hạn hiệu lực.
Việc xác minh được thực hiện thông qua mã DID và khóa công khai để kiểm tra tính toàn vẹn và hiệu lực dữ liệu.
Khoản 4 Điều 7 Nghị định số 372/2026/NĐ-CP quy đinh xác định rõ trách nhiệm: Bên phát hành chịu trách nhiệm nội dung chứng chỉ số; Bên cung cấp bằng chứng số chịu trách nhiệm dữ liệu; Bên sử dụng chỉ được yêu cầu dữ liệu trong phạm vi hợp lệ.
Quy định bắt buộc truy xuất nguồn gốc theo các mốc trong chuỗi cung ứng
Theo Điều 10 Nghị định số 372/2026/NĐ-CP quy định việc truy xuất nguồn gốc được thực hiện thông qua mã UID và phải ghi nhận bằng chứng chỉ số tại các thời điểm tối thiểu.
Việc ghi nhận thông qua khởi tạo các chứng chỉ số phải được thực hiện tối thiểu tại một trong các công đoạn, thời điểm sau:
- Công đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất, trước khi hàng hóa được đưa ra thị trường tiêu thụ đối với hàng hóa sản xuất trong nước;
- Thời điểm hoàn tất thủ tục nhập khẩu đối với hàng hóa nhập khẩu;
- Thời điểm hàng hoá được đơn vị bán lẻ xuất hoá đơn và cung cấp cho người tiêu dùng trong chuỗi cung ứng.
Ngoài ra, khi cấp các chứng nhận cho sản phẩm, hàng hóa, phải đồng thời tạo chứng chỉ số, lưu trữ trên hệ thống và kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia.
Chứng chỉ số được gắn với sản phẩm qua mã UID để bảo đảm xác thực và truy xuất nguồn gốc trong suốt vòng đời và có giá trị như bản chính.
Xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về sản phẩm, hàng hóa
Theo Điều 18 Nghị định số 372/2026/NĐ-CP quy định cơ sở dữ liệu quốc gia bao gồm toàn bộ dữ liệu về sản phẩm trong vòng đời, phục vụ quản lý và truy xuất; khoản 5 Điều 18 Nghị định này quy định dữ liệu bao gồm: Thông tin định danh sản phẩm; Thông tin lô/mẻ; Thông tin chủ thể liên quan; Thông tin tiêu chuẩn, chất lượng; Dữ liệu truy xuất; Dữ liệu cảnh báo, vi phạm, thu hồi.
Dữ liệu phải đúng mục đích, đúng thẩm quyền, được xác thực tại nguồn, được chuẩn hóa, không trùng lặp và có khả năng truy vết và bảo đảm an ninh.
Nghĩa vụ của doanh nghiệp trong việc cung cấp và cập nhật dữ liệu
Theo Điều 22 Nghị định số 372/2026/NĐ-CP quy định doanh nghiệp phải cung cấp và cập nhật dữ liệu trong toàn bộ chuỗi cung ứng.
Khoản 3 Điều Nghị định này quy định nhà sản xuất, nhập khẩu phải tạo lập dữ liệu chủ và dữ liệu lô hàng; Đơn vị phân phối, logistics phải cập nhật dữ liệu lưu thông; Sàn thương mại điện tử phải cung cấp thông tin người bán và dữ liệu truy xuất; Tổ chức chứng nhận phải cung cấp dữ liệu kiểm định, chứng nhận.
Khoản 4 Điều 24 Nghị định này quy định dữ liệu phải được cập nhật theo thời gian thực hoặc chậm nhất trong 24 giờ kể từ khi phát sinh.
Cơ chế kết nối, chia sẻ dữ liệu liên ngành
Theo Điều 23, Nghị định số 372/2026/NĐ-CP quy định các Bộ, ngành phải chia sẻ dữ liệu với hệ thống, bao gồm:
- Bộ Công Thương: dữ liệu sản xuất, thương mại, logistics;
- Bộ Nông nghiệp và Môi trường: dữ liệu nông sản, vùng trồng;
- Bộ Y tế: dữ liệu dược phẩm, thực phẩm;
- Bộ Tài chính: dữ liệu hải quan, thuế;
- Bộ Tư pháp: dữ liệu pháp lý;
- Thanh tra Chính phủ: dữ liệu vi phạm.
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm thu thập, cập nhật và kết nối dữ liệu địa phương.
Quy định về khai thác, sử dụng dữ liệu
Theo Điều 27 và Điều 29 của Nghị định số 372/2026/NĐ-CP quy đinh việc khai thác dữ liệu phải đúng mục đích, đúng thẩm quyền bảo đảm bảo mật và bảo vệ dữ liệu cá nhân. Thời hạn xử lý cấp quyền khai thác là 07 ngày làm việc.
Điều 30 Nghị định số 372/2026/NĐ-CP quy đinh cơ quan Nhà nước khai thác dữ liệu không thu phí các trường hợp khác thực hiện theo giá dịch vụ.
Chính phủ ban hành Nghị định số 372/2026/NĐ-CP, ngày 29/9/2026 quy định về hoạt động định danh, xác thực, truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hoá; có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2027 là cơ sở pháp lý về nền tảng định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa. Việc xây dựng và triển khai nền tảng quốc gia về định danh, truy xuất nguồn gốc và xác thực sản phẩm, hàng hoá sẽ bảo đảm sự liên thông giữa các hệ thống dữ liệu hiện có, tạo nền tảng kỹ thuật vững chắc để áp dụng các công nghệ số tiên tiến, nâng cao hiệu quả quản lý và minh bạch hóa chuỗi cung ứng sản phẩm, hàng hóa một cách thuận lợi và đồng bộ trên toàn quốc./.
Theo Điều 1 và Điều 4 Nghị định số 372/2026/NĐ-CP quy định việc xây dựng và vận hành Nền tảng quốc gia về định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa cùng với Cơ sở dữ liệu quốc gia về sản phẩm, hàng hóa theo nguyên tắc quản lý tập trung, thống nhất từ trung ương đến địa phương.
Nghị định quy định nền tảng và cơ sở dữ liệu được xây dựng, quản lý tập trung; các bộ, ngành, địa phương và tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thu thập, cập nhật, khai thác dữ liệu trong phạm vi quản lý.
Khoản 4 Điều 4 Nghị định này quy định yêu cầu hệ thống phải có tính mở, đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật, bảo đảm kết nối với các cơ sở dữ liệu quốc gia khác và được quản lý tập trung tại Trung tâm dữ liệu quốc gia.
Áp dụng mã định danh sản phẩm (UID) cho toàn bộ hàng hóa
Theo Điều 5 và Điều 8 Nghị định số 372/2026/NĐ-CP quy định mỗi sản phẩm, hàng hóa được cấp một mã định danh duy nhất (UID) trên Nền tảng quốc gia, như sau:
- Khoản 1 Điều 5 quy định mã UID được tạo lập tự động trên hệ thống; khoản 1 Điều 8 xác định việc định danh là tạo lập và gắn mã UID để nhận diện, xác thực và phục vụ truy xuất trong toàn bộ vòng đời sản phẩm.
- Khoản 2 Điều 8 quy định mã UID được cấp khi:
Doanh nghiệp tạo lập dữ liệu chủ lần đầu;
Dữ liệu được kết nối từ các hệ thống khác;
Hoặc theo yêu cầu quản lý nhà nước.
Khoản 3 Điều 8 quy định trường hợp sản phẩm đã có mã GTIN thì sử dụng làm thông tin đối chiếu, liên kết với UID.
Thiết lập định danh phi tập trung (DID) và cơ chế khóa mã hóa
Theo Điều 6 Nghị định số 372/2026/NĐ-CP quy định mỗi tổ chức, cá nhân tham gia hệ thống được cấp một mã định danh phi tập trung (DID) kèm theo khóa bí mật và khóa công khai. Mỗi sản phẩm được cấp một mã DID duy nhất để phục vụ định danh, xác thực và tạo lập chứng chỉ số, bằng chứng số. Bên cạnh đó, còn yêu cầu mã DID phải gắn với danh tính điện tử và được sử dụng thống nhất trong toàn bộ quá trình xác thực dữ liệu.
Áp dụng cơ chế chứng chỉ số và bằng chứng số trong xác thực dữ liệu
Theo Điều 7 Nghị định số 372/2026/NĐ-CP quy định việc khởi tạo, chia sẻ và xác minh dữ liệu sản phẩm được thực hiện thông qua chứng chỉ số và bằng chứng số. Chứng chỉ số phải được ký bằng khóa bí mật của bên phát hành và phải công bố khóa công khai, mã DID, thời điểm phát hành, thời hạn hiệu lực.
Việc xác minh được thực hiện thông qua mã DID và khóa công khai để kiểm tra tính toàn vẹn và hiệu lực dữ liệu.
Khoản 4 Điều 7 Nghị định số 372/2026/NĐ-CP quy đinh xác định rõ trách nhiệm: Bên phát hành chịu trách nhiệm nội dung chứng chỉ số; Bên cung cấp bằng chứng số chịu trách nhiệm dữ liệu; Bên sử dụng chỉ được yêu cầu dữ liệu trong phạm vi hợp lệ.
Quy định bắt buộc truy xuất nguồn gốc theo các mốc trong chuỗi cung ứng
Theo Điều 10 Nghị định số 372/2026/NĐ-CP quy định việc truy xuất nguồn gốc được thực hiện thông qua mã UID và phải ghi nhận bằng chứng chỉ số tại các thời điểm tối thiểu.
Việc ghi nhận thông qua khởi tạo các chứng chỉ số phải được thực hiện tối thiểu tại một trong các công đoạn, thời điểm sau:
- Công đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất, trước khi hàng hóa được đưa ra thị trường tiêu thụ đối với hàng hóa sản xuất trong nước;
- Thời điểm hoàn tất thủ tục nhập khẩu đối với hàng hóa nhập khẩu;
- Thời điểm hàng hoá được đơn vị bán lẻ xuất hoá đơn và cung cấp cho người tiêu dùng trong chuỗi cung ứng.
Ngoài ra, khi cấp các chứng nhận cho sản phẩm, hàng hóa, phải đồng thời tạo chứng chỉ số, lưu trữ trên hệ thống và kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia.
Chứng chỉ số được gắn với sản phẩm qua mã UID để bảo đảm xác thực và truy xuất nguồn gốc trong suốt vòng đời và có giá trị như bản chính.
Xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về sản phẩm, hàng hóa
Theo Điều 18 Nghị định số 372/2026/NĐ-CP quy định cơ sở dữ liệu quốc gia bao gồm toàn bộ dữ liệu về sản phẩm trong vòng đời, phục vụ quản lý và truy xuất; khoản 5 Điều 18 Nghị định này quy định dữ liệu bao gồm: Thông tin định danh sản phẩm; Thông tin lô/mẻ; Thông tin chủ thể liên quan; Thông tin tiêu chuẩn, chất lượng; Dữ liệu truy xuất; Dữ liệu cảnh báo, vi phạm, thu hồi.
Dữ liệu phải đúng mục đích, đúng thẩm quyền, được xác thực tại nguồn, được chuẩn hóa, không trùng lặp và có khả năng truy vết và bảo đảm an ninh.
Nghĩa vụ của doanh nghiệp trong việc cung cấp và cập nhật dữ liệu
Theo Điều 22 Nghị định số 372/2026/NĐ-CP quy định doanh nghiệp phải cung cấp và cập nhật dữ liệu trong toàn bộ chuỗi cung ứng.
Khoản 3 Điều Nghị định này quy định nhà sản xuất, nhập khẩu phải tạo lập dữ liệu chủ và dữ liệu lô hàng; Đơn vị phân phối, logistics phải cập nhật dữ liệu lưu thông; Sàn thương mại điện tử phải cung cấp thông tin người bán và dữ liệu truy xuất; Tổ chức chứng nhận phải cung cấp dữ liệu kiểm định, chứng nhận.
Khoản 4 Điều 24 Nghị định này quy định dữ liệu phải được cập nhật theo thời gian thực hoặc chậm nhất trong 24 giờ kể từ khi phát sinh.
Cơ chế kết nối, chia sẻ dữ liệu liên ngành
Theo Điều 23, Nghị định số 372/2026/NĐ-CP quy định các Bộ, ngành phải chia sẻ dữ liệu với hệ thống, bao gồm:
- Bộ Công Thương: dữ liệu sản xuất, thương mại, logistics;
- Bộ Nông nghiệp và Môi trường: dữ liệu nông sản, vùng trồng;
- Bộ Y tế: dữ liệu dược phẩm, thực phẩm;
- Bộ Tài chính: dữ liệu hải quan, thuế;
- Bộ Tư pháp: dữ liệu pháp lý;
- Thanh tra Chính phủ: dữ liệu vi phạm.
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm thu thập, cập nhật và kết nối dữ liệu địa phương.
Quy định về khai thác, sử dụng dữ liệu
Theo Điều 27 và Điều 29 của Nghị định số 372/2026/NĐ-CP quy đinh việc khai thác dữ liệu phải đúng mục đích, đúng thẩm quyền bảo đảm bảo mật và bảo vệ dữ liệu cá nhân. Thời hạn xử lý cấp quyền khai thác là 07 ngày làm việc.
Điều 30 Nghị định số 372/2026/NĐ-CP quy đinh cơ quan Nhà nước khai thác dữ liệu không thu phí các trường hợp khác thực hiện theo giá dịch vụ.
Chính phủ ban hành Nghị định số 372/2026/NĐ-CP, ngày 29/9/2026 quy định về hoạt động định danh, xác thực, truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hoá; có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2027 là cơ sở pháp lý về nền tảng định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa. Việc xây dựng và triển khai nền tảng quốc gia về định danh, truy xuất nguồn gốc và xác thực sản phẩm, hàng hoá sẽ bảo đảm sự liên thông giữa các hệ thống dữ liệu hiện có, tạo nền tảng kỹ thuật vững chắc để áp dụng các công nghệ số tiên tiến, nâng cao hiệu quả quản lý và minh bạch hóa chuỗi cung ứng sản phẩm, hàng hóa một cách thuận lợi và đồng bộ trên toàn quốc./.
Huỳnh Kiểm
Các tin khác
-
-
-

Đang online: 1 Hôm nay: 6243 Trong tuần: 61093 Trong tháng 146244 Tất cả: 28699517



.jpg)






