Hoàn thiện pháp luật về biển, tạo động lực phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường
Cập nhật ngày: 25-10-2026
Sáng ngày 24/10, tại Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI, thảo luận tại Tổ 12 về dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi), Thiếu tướng Hồ Việt Triều, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Giám đốc Công an tỉnh Cà Mau, Ủy viên Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại của Quốc hội, đề nghị tiếp tục hoàn thiện các quy định về quản lý không gian biển, bảo vệ môi trường và tháo gỡ những điểm nghẽn về thủ tục đầu tư, qua đó tạo điều kiện phát triển kinh tế biển bền vững, đồng thời bảo đảm quốc phòng, an ninh.
.jpg)
Thiếu tướng Hồ Việt Triều, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Giám đốc Công an tỉnh Cà Mau,
Ủy viên Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại của Quốc hội, phát biểu thảo luận
tại Tổ về dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi).
Hoàn thiện quy hoạch biển, tháo gỡ vướng mắc từ thực tiễn
Đánh giá về dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi), đại biểu Hồ Việt Triều bày tỏ sự đồng tình với những đổi mới của dự thảo, nhất là việc mở rộng phạm vi điều chỉnh đối với quản lý không gian biển và không gian ngầm dưới đáy biển, đổi mới quy trình lập quy hoạch, cũng như nghiên cứu cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với công nghệ và mô hình kinh tế biển mới.
Theo đại biểu, việc sửa đổi luật có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh đất nước đang tập trung nguồn lực phát triển kinh tế biển, triển khai nhiều dự án hạ tầng, giao thông và năng lượng quy mô lớn. Tuy nhiên, để các chính sách thực sự đi vào cuộc sống, quy định pháp luật cần xuất phát từ yêu cầu quản lý thực tế, bảo đảm tính đồng bộ, khả thi và hài hòa lợi ích giữa phát triển kinh tế với bảo vệ tài nguyên, môi trường, quốc phòng, an ninh.
Từ thực tiễn tham gia quản lý nhà nước và quá trình triển khai các dự án trọng điểm tại Cà Mau như tuyến cao tốc Cà Mau – Đất Mũi, cảng biển tổng hợp Hòn Khoai, cầu Hòn Khoai và các dự án năng lượng tái tạo, đại biểu cho rằng một trong những vấn đề cần quan tâm là tình trạng thiếu liên kết giữa quy hoạch không gian biển với quy hoạch của các ngành, lĩnh vực.
Hiện nay, các dự án ven biển và ngoài khơi có thể liên quan đồng thời đến quy hoạch tài nguyên, môi trường, xây dựng, năng lượng, du lịch và quốc phòng. Nếu thiếu cơ chế tích hợp, phối hợp rõ ràng, quá trình thẩm định, lựa chọn địa điểm và triển khai dự án dễ phát sinh chồng chéo, kéo dài thời gian xử lý thủ tục, ảnh hưởng đến tiến độ đầu tư.
Từ thực tế đó, đại biểu đề nghị dự thảo luật quy định cụ thể hơn trình tự, thủ tục và cơ chế tích hợp bắt buộc giữa Quy hoạch không gian biển quốc gia với quy hoạch ngành, lĩnh vực và quy hoạch phát triển kinh tế biển của địa phương. Đồng thời, cần có nguyên tắc, tiêu chí rõ ràng để xử lý các trường hợp chồng lấn không gian biển, bảo đảm việc khai thác, sử dụng tài nguyên biển được thực hiện thống nhất, hiệu quả.
Việc hoàn thiện cơ chế phối hợp không chỉ giúp rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục hành chính mà còn góp phần nâng cao chất lượng quản lý nhà nước, tạo môi trường đầu tư minh bạch, ổn định và hạn chế những xung đột có thể phát sinh trong quá trình triển khai các dự án.
.jpg)
Quang cảnh phiên thảo luận Tổ số 12
Quản lý bờ biển linh hoạt, phù hợp với điều kiện tự nhiên
Một nội dung được đại biểu Hồ Việt Triều quan tâm là quy định về hành lang bảo vệ bờ biển và khoảng lùi xây dựng. Theo đại biểu, đặc điểm địa hình, địa chất và diễn biến đường bờ biển ở mỗi địa phương không giống nhau; vì vậy, nếu áp dụng các quy định cứng nhắc mà chưa tính đầy đủ đến điều kiện thực tế có thể gây khó khăn cho cả công tác bảo tồn thiên nhiên lẫn phát triển kinh tế.
Thực tiễn tại Cà Mau cho thấy đường bờ biển có sự biến động phức tạp, với những khu vực bị xói lở, sạt lở và những nơi được bồi tụ, mở rộng ra phía biển. Bên cạnh đó, hoạt động phát triển du lịch, dịch vụ ven biển còn phải tuân thủ các quy định về bảo tồn thiên nhiên, trong đó có những khu vực có giá trị sinh thái quan trọng như Khu Ramsar Mũi Cà Mau.
Đại biểu dẫn chứng việc tiếp nhận, triển khai công trình Cột cờ Hà Nội tại Mũi Cà Mau vào năm 2018. Quá trình thực hiện một số thủ tục liên quan đến cây xanh ven bờ gặp vướng mắc do yêu cầu bảo tồn, phải mất thời gian dài xin ý kiến các cấp và tổ chức nghiệm thu trước khi hoàn thành. Qua đó cho thấy, các quy định quản lý cần vừa bảo đảm mục tiêu bảo tồn, vừa có cơ chế xử lý phù hợp với từng trường hợp cụ thể.
Đại biểu đề nghị nghiên cứu quy định linh hoạt hơn về khoảng lùi xây dựng và hành lang bảo vệ bờ biển, dựa trên các tiêu chí khoa học về xói lở, sạt lở, bồi tụ và yêu cầu bảo tồn hệ sinh thái. Việc xác định khoảng lùi cần phù hợp với đặc điểm từng đoạn bờ biển, tránh áp dụng máy móc một khuôn khổ chung cho những khu vực có điều kiện tự nhiên khác biệt.
Cách tiếp cận này sẽ góp phần nâng cao hiệu quả phòng ngừa rủi ro thiên tai, bảo vệ hệ sinh thái ven biển, đồng thời tạo điều kiện để địa phương chủ động hơn trong quy hoạch, thu hút đầu tư và phát triển các hoạt động kinh tế biển phù hợp.
Một nội dung được đại biểu Hồ Việt Triều quan tâm là quy định về hành lang bảo vệ bờ biển và khoảng lùi xây dựng. Theo đại biểu, đặc điểm địa hình, địa chất và diễn biến đường bờ biển ở mỗi địa phương không giống nhau; vì vậy, nếu áp dụng các quy định cứng nhắc mà chưa tính đầy đủ đến điều kiện thực tế có thể gây khó khăn cho cả công tác bảo tồn thiên nhiên lẫn phát triển kinh tế.
Thực tiễn tại Cà Mau cho thấy đường bờ biển có sự biến động phức tạp, với những khu vực bị xói lở, sạt lở và những nơi được bồi tụ, mở rộng ra phía biển. Bên cạnh đó, hoạt động phát triển du lịch, dịch vụ ven biển còn phải tuân thủ các quy định về bảo tồn thiên nhiên, trong đó có những khu vực có giá trị sinh thái quan trọng như Khu Ramsar Mũi Cà Mau.
Đại biểu dẫn chứng việc tiếp nhận, triển khai công trình Cột cờ Hà Nội tại Mũi Cà Mau vào năm 2018. Quá trình thực hiện một số thủ tục liên quan đến cây xanh ven bờ gặp vướng mắc do yêu cầu bảo tồn, phải mất thời gian dài xin ý kiến các cấp và tổ chức nghiệm thu trước khi hoàn thành. Qua đó cho thấy, các quy định quản lý cần vừa bảo đảm mục tiêu bảo tồn, vừa có cơ chế xử lý phù hợp với từng trường hợp cụ thể.
Đại biểu đề nghị nghiên cứu quy định linh hoạt hơn về khoảng lùi xây dựng và hành lang bảo vệ bờ biển, dựa trên các tiêu chí khoa học về xói lở, sạt lở, bồi tụ và yêu cầu bảo tồn hệ sinh thái. Việc xác định khoảng lùi cần phù hợp với đặc điểm từng đoạn bờ biển, tránh áp dụng máy móc một khuôn khổ chung cho những khu vực có điều kiện tự nhiên khác biệt.
Cách tiếp cận này sẽ góp phần nâng cao hiệu quả phòng ngừa rủi ro thiên tai, bảo vệ hệ sinh thái ven biển, đồng thời tạo điều kiện để địa phương chủ động hơn trong quy hoạch, thu hút đầu tư và phát triển các hoạt động kinh tế biển phù hợp.
.jpg)
Các đại biểu Đoàn ĐBQH tỉnh Cà Mau tại phiên thảo luận
Phát triển kinh tế biển xanh đi đôi với trách nhiệm môi trường
Đối với các dự án kinh tế biển quy mô lớn, đặc biệt là điện gió ngoài khơi, điện khí và các công trình hạ tầng biển, đại biểu cho rằng cần tiếp tục hoàn thiện quy định về khảo sát, giao khu vực biển và cấp phép thi công theo hướng minh bạch, rõ ràng về điều kiện, thẩm quyền và thời hạn giải quyết.
Theo đại biểu, thủ tục thiếu cụ thể hoặc kéo dài có thể làm tăng chi phí, ảnh hưởng đến tiến độ triển khai và giảm sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư có năng lực. Do đó, cần luật hóa các tiêu chí, quy trình cần thiết để địa phương, cơ quan quản lý và nhà đầu tư có căn cứ thống nhất trong quá trình thực hiện.
Đáng chú ý, đại biểu đề nghị bổ sung quy định bắt buộc chủ đầu tư các công trình trên biển phải xây dựng phương án tháo dỡ khi dự án hết thời hạn sử dụng, đồng thời thực hiện ký quỹ tài chính để bảo đảm nguồn lực cho việc duy tu, sửa chữa và tháo dỡ công trình theo quy định.
Đây là vấn đề có ý nghĩa lâu dài đối với các công trình như giàn khoan dầu khí, tua-bin điện gió, đường ống ngầm và trạm biến áp ngoài khơi. Nếu không xác định rõ trách nhiệm và nguồn kinh phí từ đầu, khi công trình kết thúc vòng đời khai thác, chi phí xử lý, tháo dỡ có thể trở thành gánh nặng cho Nhà nước, đồng thời để lại nguy cơ đối với môi trường biển và các hoạt động trên biển.
Việc quy định rõ trách nhiệm tài chính của nhà đầu tư ngay từ giai đoạn chuẩn bị dự án sẽ góp phần bảo đảm nguyên tắc phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường, hạn chế tình trạng chuyển giao chi phí xử lý hậu quả cho cộng đồng và các thế hệ tương lai.
Cùng với đó, đại biểu nhấn mạnh yêu cầu tăng cường kiểm soát ô nhiễm, nhất là rác thải nhựa đại dương, chất thải từ khu công nghiệp và đô thị ven biển. Tình trạng ngư lưới cụ, thùng xốp và rác thải trôi nổi trên sông, biển không chỉ ảnh hưởng đến cảnh quan, hệ sinh thái mà còn gây cản trở hoạt động khai thác thủy sản, vận tải và du lịch.
Đại biểu đề nghị tăng cường các quy chuẩn kỹ thuật về kiểm soát xả thải, xử lý nghiêm hành vi xả thải trái phép ra biển, đồng thời hoàn thiện quy định về cấp phép nhận chìm ở biển.
Từ thực tiễn thi công cảng biển tổng hợp Hòn Khoai, đại biểu cho biết điều kiện địa chất vùng biển Cà Mau có những đặc thù cần được tính đến trong quá trình xây dựng công trình. Hoạt động thi công có thể phát sinh nhu cầu xử lý vật chất, bùn cát và thực hiện các biện pháp kỹ thuật liên quan đến nhận chìm ở biển. Vì vậy, quy định pháp luật cần làm rõ điều kiện, tiêu chí, trình tự, thẩm quyền và thời hạn cấp phép để vừa bảo đảm yêu cầu bảo vệ môi trường, vừa tránh gây ách tắc không cần thiết cho các công trình trọng điểm.
Đại biểu lưu ý, việc đơn giản hóa thủ tục không đồng nghĩa với hạ thấp yêu cầu bảo vệ môi trường. Các dự án phải được đánh giá tác động môi trường chặt chẽ, có cơ chế giám sát phù hợp và quy định rõ trách nhiệm bồi thường khi gây thiệt hại đến hệ sinh thái biển, rạn san hô, thảm cỏ biển và nguồn lợi thủy sản.
Đối với các dự án kinh tế biển quy mô lớn, đặc biệt là điện gió ngoài khơi, điện khí và các công trình hạ tầng biển, đại biểu cho rằng cần tiếp tục hoàn thiện quy định về khảo sát, giao khu vực biển và cấp phép thi công theo hướng minh bạch, rõ ràng về điều kiện, thẩm quyền và thời hạn giải quyết.
Theo đại biểu, thủ tục thiếu cụ thể hoặc kéo dài có thể làm tăng chi phí, ảnh hưởng đến tiến độ triển khai và giảm sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư có năng lực. Do đó, cần luật hóa các tiêu chí, quy trình cần thiết để địa phương, cơ quan quản lý và nhà đầu tư có căn cứ thống nhất trong quá trình thực hiện.
Đáng chú ý, đại biểu đề nghị bổ sung quy định bắt buộc chủ đầu tư các công trình trên biển phải xây dựng phương án tháo dỡ khi dự án hết thời hạn sử dụng, đồng thời thực hiện ký quỹ tài chính để bảo đảm nguồn lực cho việc duy tu, sửa chữa và tháo dỡ công trình theo quy định.
Đây là vấn đề có ý nghĩa lâu dài đối với các công trình như giàn khoan dầu khí, tua-bin điện gió, đường ống ngầm và trạm biến áp ngoài khơi. Nếu không xác định rõ trách nhiệm và nguồn kinh phí từ đầu, khi công trình kết thúc vòng đời khai thác, chi phí xử lý, tháo dỡ có thể trở thành gánh nặng cho Nhà nước, đồng thời để lại nguy cơ đối với môi trường biển và các hoạt động trên biển.
Việc quy định rõ trách nhiệm tài chính của nhà đầu tư ngay từ giai đoạn chuẩn bị dự án sẽ góp phần bảo đảm nguyên tắc phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường, hạn chế tình trạng chuyển giao chi phí xử lý hậu quả cho cộng đồng và các thế hệ tương lai.
Cùng với đó, đại biểu nhấn mạnh yêu cầu tăng cường kiểm soát ô nhiễm, nhất là rác thải nhựa đại dương, chất thải từ khu công nghiệp và đô thị ven biển. Tình trạng ngư lưới cụ, thùng xốp và rác thải trôi nổi trên sông, biển không chỉ ảnh hưởng đến cảnh quan, hệ sinh thái mà còn gây cản trở hoạt động khai thác thủy sản, vận tải và du lịch.
Đại biểu đề nghị tăng cường các quy chuẩn kỹ thuật về kiểm soát xả thải, xử lý nghiêm hành vi xả thải trái phép ra biển, đồng thời hoàn thiện quy định về cấp phép nhận chìm ở biển.
Từ thực tiễn thi công cảng biển tổng hợp Hòn Khoai, đại biểu cho biết điều kiện địa chất vùng biển Cà Mau có những đặc thù cần được tính đến trong quá trình xây dựng công trình. Hoạt động thi công có thể phát sinh nhu cầu xử lý vật chất, bùn cát và thực hiện các biện pháp kỹ thuật liên quan đến nhận chìm ở biển. Vì vậy, quy định pháp luật cần làm rõ điều kiện, tiêu chí, trình tự, thẩm quyền và thời hạn cấp phép để vừa bảo đảm yêu cầu bảo vệ môi trường, vừa tránh gây ách tắc không cần thiết cho các công trình trọng điểm.
Đại biểu lưu ý, việc đơn giản hóa thủ tục không đồng nghĩa với hạ thấp yêu cầu bảo vệ môi trường. Các dự án phải được đánh giá tác động môi trường chặt chẽ, có cơ chế giám sát phù hợp và quy định rõ trách nhiệm bồi thường khi gây thiệt hại đến hệ sinh thái biển, rạn san hô, thảm cỏ biển và nguồn lợi thủy sản.
.jpg)
Các đại biểu Đoàn ĐBQH tỉnh Cà Mau tại phiên thảo luận
Đẩy mạnh chuyển đổi số, nâng cao hiệu quả quản lý biển
Một vấn đề khác được đại biểu Hồ Việt Triều đề xuất là xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên, môi trường biển dùng chung, tăng cường kết nối, chia sẻ thông tin giữa các bộ, ngành và địa phương.
Theo đó, cần có quy định rõ về trách nhiệm cập nhật, kết nối và khai thác dữ liệu điều tra cơ bản biển, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý, quy hoạch và thẩm định các dự án. Đối với thông tin thuộc phạm vi bí mật nhà nước, cần quản lý theo đúng quy định, bảo đảm yêu cầu bảo vệ an ninh quốc gia, quốc phòng và chủ quyền biển, đảo.
Đại biểu cũng đề nghị đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ trong giám sát từ xa thông qua ảnh vệ tinh, hệ thống radar biển và thiết bị quan trắc tự động. Các công nghệ này có thể hỗ trợ phát hiện sớm nguy cơ tràn dầu, ô nhiễm môi trường, vi phạm hành lang bảo vệ bờ biển và những diễn biến bất thường, qua đó nâng cao năng lực phòng ngừa, ứng phó sự cố.
Về thủ tục hành chính, đại biểu kiến nghị tiếp tục đẩy mạnh phân cấp, phân quyền cho chính quyền địa phương phù hợp với năng lực thực hiện; thiết lập cơ chế phối hợp một đầu mối, quy định thời hạn phản hồi giữa các cơ quan và tăng cường giải quyết hồ sơ trực tuyến toàn trình.
Đây là những giải pháp thiết thực nhằm giảm thời gian xử lý công việc, nâng cao tính công khai, minh bạch, hạn chế phiền hà trong quá trình thực hiện thủ tục và tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư có năng lực tham gia phát triển kinh tế biển.
Từ những phân tích và kiến nghị nêu trên, ý kiến của đại biểu Hồ Việt Triều nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) theo hướng đồng bộ, khả thi, sát thực tiễn. Trong đó, phát triển kinh tế biển cần được đặt trong mối quan hệ hài hòa với bảo vệ hệ sinh thái, quản lý tài nguyên, ứng phó biến đổi khí hậu và bảo đảm quốc phòng, an ninh.
Những góp ý từ thực tiễn địa phương ven biển như Cà Mau sẽ góp phần giúp các quy định của luật khi được ban hành có tính khả thi cao hơn, tháo gỡ những vướng mắc trong tổ chức thực hiện, khai thác hiệu quả tiềm năng biển, đảo và hướng đến mục tiêu phát triển kinh tế biển xanh, bền vững.
Một vấn đề khác được đại biểu Hồ Việt Triều đề xuất là xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên, môi trường biển dùng chung, tăng cường kết nối, chia sẻ thông tin giữa các bộ, ngành và địa phương.
Theo đó, cần có quy định rõ về trách nhiệm cập nhật, kết nối và khai thác dữ liệu điều tra cơ bản biển, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý, quy hoạch và thẩm định các dự án. Đối với thông tin thuộc phạm vi bí mật nhà nước, cần quản lý theo đúng quy định, bảo đảm yêu cầu bảo vệ an ninh quốc gia, quốc phòng và chủ quyền biển, đảo.
Đại biểu cũng đề nghị đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ trong giám sát từ xa thông qua ảnh vệ tinh, hệ thống radar biển và thiết bị quan trắc tự động. Các công nghệ này có thể hỗ trợ phát hiện sớm nguy cơ tràn dầu, ô nhiễm môi trường, vi phạm hành lang bảo vệ bờ biển và những diễn biến bất thường, qua đó nâng cao năng lực phòng ngừa, ứng phó sự cố.
Về thủ tục hành chính, đại biểu kiến nghị tiếp tục đẩy mạnh phân cấp, phân quyền cho chính quyền địa phương phù hợp với năng lực thực hiện; thiết lập cơ chế phối hợp một đầu mối, quy định thời hạn phản hồi giữa các cơ quan và tăng cường giải quyết hồ sơ trực tuyến toàn trình.
Đây là những giải pháp thiết thực nhằm giảm thời gian xử lý công việc, nâng cao tính công khai, minh bạch, hạn chế phiền hà trong quá trình thực hiện thủ tục và tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư có năng lực tham gia phát triển kinh tế biển.
Từ những phân tích và kiến nghị nêu trên, ý kiến của đại biểu Hồ Việt Triều nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) theo hướng đồng bộ, khả thi, sát thực tiễn. Trong đó, phát triển kinh tế biển cần được đặt trong mối quan hệ hài hòa với bảo vệ hệ sinh thái, quản lý tài nguyên, ứng phó biến đổi khí hậu và bảo đảm quốc phòng, an ninh.
Những góp ý từ thực tiễn địa phương ven biển như Cà Mau sẽ góp phần giúp các quy định của luật khi được ban hành có tính khả thi cao hơn, tháo gỡ những vướng mắc trong tổ chức thực hiện, khai thác hiệu quả tiềm năng biển, đảo và hướng đến mục tiêu phát triển kinh tế biển xanh, bền vững.
Lê Hằng
Các tin khác
-
-
-

Đang online: 1 Hôm nay: 8613 Trong tuần: 89095 Trong tháng 135372 Tất cả: 29580489









